Ông Phạm Nhật Vượng

Tỷ phú USD - Người nhiều năm dẫn đầu trong top những người giàu nhất thị trường chứng khoán tại Việt Nam.

Ông Đoàn Nguyên Đức

Doanh nhân thành đạt trên nhiều lĩnh vực kinh doanh, ông bầu của Đội bóng Hoàng Anh Gia Lai nổi tiếng, doanh nhân đầu tiên có máy bay riêng.

Ông Nguyễn Bá Thanh

Ông Nguyễn Bá Thanh - nhà chính trị, một tấm gương bộc trực, liêm chính.

Giáo sư Ngô Bảo Châu

Nhà toán học nổi tiếng với công trình chứng minh Bổ đề cơ bản cho các dạng tự đẳng cấu do Robert Langlands và Diana Shelstad phỏng đoán. Ông là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields.

Bài học thành công từ Mark Zuckerberg

29 tuổi - tỷ phú USD - sở hữu một sản phẩm mà hầu hết mọi người sử dụng internet đều biết đến.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận

Một khoa học gia người Mỹ gốc Việt trong lĩnh vực vật lý thiên văn, là một nhà văn đã viết nhiều quyển sách có giá trị cao về vũ trụ học và về những suy nghĩ của ông trong tương quan giữa khoa học và Phật giáo.

Những "nguyên tắc vàng" của các triệu phú làm giàu từ tay trắng

Bằng cách nghiên cứu các hành vi ứng xử của hàng ngàn triệu phú giàu lên nhờ vào chính bản thân mình, Brian Tracy – Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành của Brian Tracy International, một công ty chuyên về đào tạo và phát triển cá nhân và các tổ chức, đã đúc rút được 21 phẩm chất làm nên thành công của họ. Bản thân Brian Tracy đã từng tư vấn cho hơn 1.000 công ty và hơn bốn triệu người ở Mỹ, Canada và 40 nước khác trên thế giới. Những nguyên tắc mà Tracyđưa ra có thể đã trở nên quá hiển nhiên đối với nhiều người, nhưng đó là những nguyên tắc bất hủ và phải luôn được đề cao. Khi áp dụng các nguyên tắc này, các doanh nhân có thể tạo ra những thay đổi lớn trong suy nghĩ, hành động, thói quen, thu nhập và lối sống của mình…



1. Nuôi dưỡng những ước mơ lớn. Hãy hình dung, tưởng tượng và tạo ra một bức tranh, một viễn cảnh đầy niềm vui, bình yên và giàu có.

2. Vạch ra một hướng đi rõ ràng. Hãy tìm hiểu, khám phá xem mình muốn đi về đâu, khi nào đường đi sẽ gặp gập ghềnh, trở ngại. Đây chính là cơ sở của việc xây dựng các mục tiêu.

3. Xem bản thân như một người tuyển dụng chính mình. Càng làm chủ tương lai của mình, người ta càng có khả năng tạo ra các ảnh hưởng cho nghề nghiệp và cuộc sống. Không nên trông chờ vào những ý tưởng hay những đề xuất từ sếp hay tổ chức tuyển dụng mình. Khi suy nghĩ độc lập, chúng ta sẽ thấy mình đang bước đi trên một con đường rất thú vị.

4. Làm những điều mà mình yêu thích. Hãy khám phá niềm đam mê, sở thích của mình, suy nghĩ theo những cách sáng tạo để biến niềm đam mê đó thành một phương cách kiếm tiền và theo đuổi nó.

5. Hướng đến sự hoàn hảo. Hãy nghĩ rằng chúng ta sinh ra là để làm những điều xuất sắc nhất và lấy việc hướng đến sự hoàn hảo làm niềm vui.

6. Không cần làm việc nhiều thời gian hơn và cật lực hơn, mà làm việc thông minh hơn. Hãy tổ chức công việc một cách khoa học sao cho có thể làm được nhiều việc hơn trong một thời gian ngắn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong công việc.

7. Không ngừng học hỏi. Đây là điều rất cần thiết đảm bảo cho sự thành công và khả năng làm giàu. Tất cả những người thành công đều có chung đặc điểm này.

8. Tự thưởng cho mình trước. Đây là nguyên tắc tích lũy sự giàu có mà tất cả mọi người đều có thể áp dụng và nên áp dụng.

9. Tìm hiểu tất cả các khía cạnh của công việc kinh doanh. Hãy phấn đấu để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực mà mình đã chọn.

10. Tận tâm với việc phục vụ người khác. Đây chính là bí quyết được giữ kín nhất và là khởi đầu cho sự giàu có của những triệu phú “tay trắng làm nên”. Nguyên tắc này đã được chứng minh qua thời gian.

11. Tuyệt đối thành thật với bản thân và những người khác. Tính trung thực, liêm chính là một phẩm chất quan trọng hàng đầu.

12. Đặt ra các thứ tự ưu tiên trong công việc và chỉ nên tập trung từng việc một. Sự tập trung là chìa khóa để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc.

13. Xây dựng uy tín về tốc độ và sự tin cậy. Hãy tạo ra cho mình một ưu thế so với các đối thủ khác trên mọi phương diện.

14. Sẵn sàng đi từ đỉnh cao này đến đỉnh cao khác. Hãy tìm hiểu các chu kỳ, các xu hướng và điều chỉnh hành động của mình cho phù hợp.

15. Có ý thức kỷ luật cao với bản thân trong mọi vấn đề. Hãy phát huy phẩm chất quan trọng nhất này để đạt được sự thành công về mặt tài chính và trong cuộc sống cá nhân.

16. Đánh thức khả năng sáng tạo của bản thân. Sự sáng tạo sẽ giúp chúng ta tăng khả năng giải quyết vấn đề, vượt qua các khó khăn, trở ngại.

17. Làm bạn với những người tốt, người giỏi. Nên giao lưu với những người chiến thắng để học hỏi họ.

18. Quan tâm đặc biệt đến sức khỏe bản thân. Phải có ý thức cao trong việc tạo cho mình một thể trạng sung mãn và có sức khỏe tốt để đón nhận cuộc sống đầy cơ hội và thách thức.

19. Kiên định và chú trọng đến hành động. Trong mỗi giai đoạn phát triển, mỗi công việc, hãy xác định những bước hành động quan trọng nhất mà mình có thể thực hiện tức thời rồi kiên định, quyết tâm với việc làm đó.

20. Không bao giờ xem thất bại là một sự lựa chọn. Hãy vượt qua nỗi sợ thất bại. Hầu hết các nỗi sợ hãi đều hình thành từ sự tưởng tượng và từ những kinh nghiệm trong quá khứ.

21. Thử tính kiên trì. Hãy học cách nhẫn nại vượt qua khó khăn, đứng lên từ thất bại và không bao giờ có ý nghĩ bỏ cuộc.

Khối tài sản khủng của tỷ phú đôla Phạm Nhật Vượng

Là tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam, khối tài sản công khai của ông chủ Vingroup Phạm Nhật Vượng là khối bất động sản trải khắp Việt Nam.


Là một trong những tỷ phú kín tiếng nhất làng doanh nhân Việt, ông Phạm Nhật Vượng - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vingroup ít khi xuất hiện trước công luận, và cũng chưa bao giờ tiết lộ con số thực, trừ phần công khai “quy đổi” bằng cổ phiếu, hay những số liệu thống kê giá trị cổ phiếu ông này nắm giữ. 

Tuy nhiên, nhìn vào khối tài sản khổng lồ với hàng loạt dự án sang trọng thuộc các lĩnh vực bất động sản, du lịch khách sạn, y tế, sức khỏe, làm đẹp và giáo dục… của tập đoàn do ông làm chủ, người ta cũng có thể hình dung sơ bộ về giá trị tài sản mà tỷ phú này có được.

Dưới đây là những dự án đình đám mà tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam sở hữu:

Vincom Village

Nằm ở Việt Hưng (Long Biên, Hà Nội), dự án Vincom Village của Vingroup được mệnh danh là thành phố Venice giữa lòng Hà Nội. Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng, đi vào hoạt động từ cuối năm 2011, sau 7 tháng thi công. 


Vincom Village, nơi được mệnh danh là thành phố Venice giữa lòng Hà Nội - một trong những dự án của tập đoàn do ông Phạm Nhật Vượng làm chủ.
Mỗi biệt thự tại đây là một quần thể gồm có nhà ở, cây xanh và hồ nước.
Phong cách thiết kế của các biệt thự tại đây mang hơi hướng tân cổ điển lãng mạn với nhiều cụm công trình cao cấp, như trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí khổng lồ, ẩm thực, trường học… Giá mỗi căn biệt thự tại đây lên tới vài chục tỷ đồng với không gian tràn ngập cây xanh. Với người thu nhập trung bình đến khá, sở hữu một căn biệt thự rộng thênh thang có vườn cây, ao cá... tại thành phố Venice giữa lòng Hà Nội là một ước mơ xa xỉ.

Royal City

Mới khai trương một phần là trung tâm mua sắm dưới lòng đất, song dự án thành phố Hoàng Gia đã thu hút được sự quan tâm của công chúng.
Một phần của Royal City là khu vui chơi mua sắm Vincom Mega Mall được đưa vào sử dụng kể từ cuối tháng 7 khiến cho nơi được mệnh danh là thành phố Hoàng gia này luôn tấp nập khách tham quan. Nằm ở khu đất “vàng” trên đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội, dự án được xây dựng trên diện tích đất lên tới hơn 120.900 m2, có hơn 70.000 m2 cây xanh, với 6 tòa nhà. Tổng mức đầu tư dự án này cũng lên tới gần 18.000 tỷ đồng.

Vincom Center Bà Triệu và Vincom Center B TP.HCM

Đây là 2 dự án quen thuộc nhất của tập đoàn do tỷ phú Phạm Nhật Vượng đứng đầu. Tại Hà Nội, Vincom Center Bà Triệu đi vào hoạt động từ tháng 11/2004, có tổng mức đầu tư lên tới hàng nghìn tỷ đồng ở thời kỳ đó. Khu dự án có 3 cao ốc liên thông, có vị trí đẹp và được cho là một trong những trung tâm mua sắm hàng đầu miền Bắc.



Vincom Center Bà Triệu được đưa vào hoạt động từ năm 2004 - là một trong những dự án bất động sản đầu tiên của tỷ phú đôla Phạm Nhật Vượng tại Hà Nội.
Sau đó, hệ thống trung tâm thương mại, mua sắm kết hợp giải trí được đơn vị này nhân rộng với những công trình khác, trong đó có Vincom Center Long Biên tại khu đô thị Vincom Village.
Còn tại TP.HCM, tập đoàn của ông Phạm Nhật Vượng cũng đưa Vincom Center B vào hoạt động từ tháng 4/2010. Vị trí đắc địa tại trung tâm TP.HCM, dự án này cũng được mệnh danh là trung tâm mua sắm lớn cho các gia đình có điều kiện ở khu vực miền Nam. Sau đó hai năm, đơn vị này tiếp tục khai trương Vincom Center A. 


Vincom Center B tại TP.HCM được xây dựng trên khu "đất vàng" ở TP.HCM.
Vincom Center A vừa được tập đoàn của tỷ phú Phạm Nhật Vượng chuyển nhượng cho một đơn vị khác. Số lãi của thương vụ này lên tới hơn 4.300 tỷ đồng, theo tiết lộ từ Vingroup.
Hồi tháng 6/2013, Vingroup của ông Phạm Nhật Vượng cũng hoàn tất ký kết hợp đồng thương vụ gần 10.000 tỷ khi chuyển nhượng tổ hợp Vincom Center A TP.HCM cho công ty cổ phần tập đoàn phát triển hạ tầng và bất động sản Việt Nam. Số lãi của thương vụ này, theo tiết lộ từ Vingroup, lên tới 4.300 tỷ đồng.

Hàng loạt dự án bất động sản nghìn tỷ đang xây dựng

Times City, Vinpearl Villas Hòn Tre, The Beach Villas, Vincom Hải Phòng… là hàng loạt các dự án bất động sản Vingroup đang tiến hành xây dựng. Điểm chung của những dự án này là mức đầu tư đều tính bằng số tiền nghìn tỷ. Chẳng hạn, Times City có tổng đầu tư hơn 30.300 tỷ đồng, đã bao gồm bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại…; riêng Times City là hơn 5.000 tỷ.


Times City cùng với hệ thống dịch vụ khác như bệnh viện, trung tâm thương mại, công viên... có tổng mức đầu tư hơn 30.300 tỷ đồng, riêng Times City là hơn 5.000 tỷ.

Không chỉ đầu tư vào lĩnh vực nhà ở, trung tâm thương mại, tập đoàn do ông Phạm Nhật Vượng làm chủ còn sở hữu nhiều khu bất động sản nghỉ dưỡng.
Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực bất động sản, khối tài sản “khủng” của ông chủ Tập đoàn Vingroup còn nằm trong những ngành nghề kinh doanh như khách sạn, nhà hàng, dịch vụ y tế và chăm sóc sắc đẹp.

Bệnh viện Vinmec

Bệnh viện sang trọng này nằm trong quần thể đô thị Times City tại Minh Khai (Hà Nội) có quy mô như khách sạn hạng sang 5 sao. Tổng diện tích bệnh viện lên tới hơn 24.600m2, cao 7 tầng và 2 tầng hầm, có 18 khoa, 31 chuyên khoa. Tổng mức đầu tư dự án, theo thông tin từ chủ đầu tư, lên tới hơn 2.000 tỷ đồng.

Bệnh viện Vinmec như khách sạn 5 sao tại quần thể khu đô thị Times City.
Hệ thống Vincharm Spa và khách sạn, công viên giải trí trải dài cả nước

Các dự án phục vụ chăm sóc sắc đẹp, sức khỏe cũng là lĩnh vực đầu tư của tập đoàn do tỷ phú Phạm Nhật Vượng làm chủ. Trải dài từ Hà Nội đến Đà Nẵng, Nha Trang…, chuỗi spa của đơn vị này cũng được đầu tư hoành tráng, lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Đi kèm với những dịch vụ này là hệ thống khách sạn sang trọng. Khách sạn tại Đà Nẵng, Nha Trang… cũng được cho là các dịch vụ giúp cho Vingroup kiếm bộn tiền.


Một trong những siêu dự án du lịch của tỷ phú Phạm Nhật Vượng tại Nha Trang.

Các dịch vụ tại đây tương đối đa dạng, từ nhạc nước...

... đến thủy cung

Hệ thống công viên nước
Khu trò chơi cảm giác mạnh.
Ở Nha Trang, khu giải trí Vinpearl Land với sân khấu nhạc nước, thủy cung, công viên nước, khu vui chơi cảm giác mạnh, hay khu trò chơi trong nhà cũng là nơi để công ty của ông Vượng “hái ra tiền”.

 Theo Tri thức

Doanh nhân Trần Thị Hường - Bà Tư Hường

Sinh ra ở  Bình Định, bà Tư Hường kể rằng bà lớn lên trong hoàn cảnh gia đình thất bát. Bà nói: "Tôi phải đi ở, rồi đi học may, học nhuộm quần áo, đi bán hàng, từng bước đi lên... Sau khi lấy chồng, tôi làm về công nghiệp được năm năm, rồi sau đó thích làm bất động sản."




Bà cho biết: "Tôi đi lên là nhờ buôn bán bất động sản."

Không trả lời thẳng câu hỏi về chia sẻ kinh nghiệm buôn địa ốc, bà Tư Hường chỉ nói rằng: "Khi bước vô nghề, rất chông gai, phải chịu khó đủ chuyện, không phải dễ dàng."

Từ đầu những năm 90, bà Hường đã nổi tiếng với hai phi vụ thu lời hàng chục triệu USD, số tiền quá lớn vào thời đó. Đó là phi vụ bà đầu tư 15 triệu USD để xây dựng Nhà máy bia Vinagel rồi bán lại cho San Miguel giá 25 triệu USD. Sau đó, bà Tư Hường bỏ ra 5 triệu USD để xây dựng nhà máy nước giải khát rồi tiếp tục bán lại cho Lipovital với giá 17 triệu USD...

Bà Tư Hường từng có thời gian giữ chức vụ Phó Chủ tịch của CTCP Đầu tư Xây dựng và khai thác công trình giao thông 584 (NTB). Giữa NTB và công ty Hoàn Cầu của bà Hường có một số dự án bất động sản cùng đầu tư.

Bà Hường đã từ nhiệm vị trí Phó Chủ tịch NTB vào tháng 11/2010.

Hiện tại, gia đình bà Hường tham gia chủ yếu vào 2 lĩnh vực bất động sản (Công ty Hoàn Cầu) và ngân hàng (Ngân hàng Nam Á).

Công ty Hoàn Cầu: hoạt động chính trong lĩnh vực bất động sản. Website: http://hoancaugroup.com.vn
Hoàn Cầu được biết đến như là một nhà tổ chức sự kiện uy tín với bạn bè quốc tế khi được vinh dự là nhà tổ chức cuộc thi Hoa Hậu Hoàn Vũ Thế giới (Miss Universe) 2008, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
Ngân hàng Nam Á

Gia đình bà Tư Hường hiện nắm quyền chi phối đối với Ngân hàng Nam Á. Các con của bà Hường là ông Nguyễn Quốc Mỹ và bà Nguyễn Thị Xuân Loan đã lần lượt giữ chức chủ tịch của Nam Á. Cá nhân bà chỉ giữ chức vụ cố vấn hội đồng quản trị.

Tính đến cuối năm 2011, gia đình bà Tư Hường trực tiếp nắm giữ gần 20% cổ phần của ngân hàng này.

Họ tên: Trần Thị Hường
Ngày sinh: 20/4/1936 (76 tuổi)
Quê quán: Huyện Hoài Nhơn, Bình Định
Địa chỉ thường trú:203 Cách mạng Tháng tám, P.4, Q.3, Tp.HCM
Lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng, bất động sản

Gia đình:
Chồng: Nguyễn Chấn
Con trai: Nguyễn Quốc Toàn
Con trai: Nguyễn Quốc Mỹ (1971 - 41 tuổi)
Con gái: Nguyễn Thị Xuân Ngọc
Con rể: Huỳnh Thành Chung (chồng Nguyễn Thị Xuân Ngọc)
Con gái: Nguyễn Thị Xuân Loan (1974 - 38 tuổi)
Con rể: Lê Đình Trí (chồng Nguyễn Thị Xuân Loan)
Quá trình công tác: Từ 1993 - nay: Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Hoàn Cầu


Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hiếm hoi với truyền thông, một trong những người giàu nhất Việt Nam khẳng định rằng sản nghiệp được gây dựng hoàn toàn do công sức của bà.

Nổi tiếng như một điển hình đi lên từ bàn tay trắng, bà Tư Hường cũng được đồn đoán là có thế lực chi phối không nhỏ trong cả giới kinh doanh và chính quyền.

Giống như với nhiều tỉ phú khác ở Việt Nam, giới truyền thông có ít cơ hội để chứng thực những đồn đoán như vậy về bà.


Cuộc phỏng vấn của Xuân Hồng trong mùa hè năm nay là một trong những lần hiếm hoi bà Tư Hường, 72 tuổi, đồng ý xuất hiện trên truyền thông.

'Từng bước đi lên'

Sinh ra ở xã Hoài Thanh, tỉnh Bình Định, bà Tư Hường kể rằng bà lớn lên trong hoàn cảnh gia đình thất bát.
Bà nói: "Tôi phải đi ở, rồi đi học may, học nhuộm quần áo, đi bán hàng, từng bước đi lên." "Sau khi lấy chồng, tôi làm về công nghiệp được năm năm, rồi sau đó thích làm bất động sản." Bà cho biết: "Tôi đi lên là nhờ buôn bán bất động sản."

'Tôi đi lên là nhờ buôn bán bất động sản'

Bà Tư Hường không trả lời thẳng câu hỏi về chia sẻ kinh nghiệm buôn địa ốc, bà Tư Hường chỉ nói rằng: 

"Khi bước vô nghề, rất chông gai, phải chịu khó đủ chuyện, không phải dễ dàng." 

'Không lợi dụng ai'

BBC hỏi thẳng bà là sự nghiệp của bà có nhờ vào quen biết với giới quan chức hay không.

Bà Tư Hường trả lời: "Thưa không, tôi gầy dựng sự nghiệp từ bản thân, bước chân tôi đi từng bước, ngoài ra không lợi dụng ai, ông nào. Tự tôi đi, thấy chân không vững thì không đi. Nếu có nhờ là khi tôi thấy việc đó đúng thì yêu cầu nhà nước ký cho tôi, đó là nhờ về giấy tờ thôi."

Bà Tư Hường đầu tư để tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ 2008

Bà ca ngợi luật đầu tư của Việt Nam mà theo bà là "rất thuận lợi cho đầu tư bất động sản, cho cả ngoài nước, trong nước được làm như nhau", nói thêm rằng nhà nước đã "ra chính sách có lợi cho dân, đất nước quá mở cửa".

Phòng khách trong nhà bà được trang hoàng với gam màu vàng là chủ đạo, như bày tỏ mong muốn "toàn bộ dân Việt Nam phải được giàu có. Bao nhiêu năm đi làm bị chèn ép nhiều, nay tôi muốn người dân phải có màu vàng hết".

Bà bảo: "Lúc còn trẻ chưa nghĩ, nhưng nay già rồi, tôi thích làm từ thiện, để dạy con cháu theo con đường ông cha đi trước."

Xuân Hồng hỏi bà nghĩ gì về lời đồn rằng tài sản của bà có thể đủ mua nửa nước Việt Nam.

Nữ doanh nhân 72 tuổi trả lời: "Thưa ông, nước Việt Nam lớn lắm. 10 đứa con tôi làm giám đốc hết, nhưng cộng cả tôi cũng chưa được bằng 1% nước Việt Nam."

Nhìn về tương lai, bà nói sẽ không mở rộng mảng kinh doanh nào nữa mà chỉ tập trung phát triển khu du lịch và mảng địa ốc của bà.  


Bài học thành công từ CEO Facebook Mark Zuckerberg

Tìm hiểu về một chàng trai thành công từ rất sớm Mark Zuckerberg - CEO của một website mà hầu hết mọi người sử dụng internet đều biết đến.

http://3.bp.blogspot.com/-nKFA2qFtTGA/UfIzHVkxDzI/AAAAAAAAALo/989i7PHIrQA/s1600/mark-zuckerberg-tax-bill.jpg

Nếu bạn có sử dụng Facebook thường xuyên để kết nối và cập nhật thông tin của bạn bè thì chắc chắn bạn không thể không biết đến Mark Zuckerberg, người đã làm thay đổi cách liên lạc của cả thế giới và kết nối mọi người gần nhau hơn. Để làm được điều này, Mark đã phải đánh đổi rất nhiều thứ như bỏ học ở Harvard, từ chối những khoản tiền khổng lồ chỉ để theo đuổi ước mơ trong công việc của mình và thành công của anh như ngày hôm nay là hoàn toàn xứng đáng.

Bạn hãy học tập những bí quyết thành công của CEO trẻ nhất thế giới và áp dụng vào sự nghiệp của mình để có những bước thăng tiến mới. Chúc bạn thành công!

1.    Nuôi dưỡng ước mơ
Nhiều người vẫn cho rằng Mark Zuckerberg trở thành triệu phú một cách dễ dàng, họ nghĩ anh tạo nên Facebook chỉ bằng một cú búng tay. Sự thật là, Mark Zuckerberg không phải là hình mẫu thành công trong một sớm một chiều. Hành trình đến với danh vọng và giàu sang của anh khởi đầu từ một ước mơ, một khao khát mà anh sẵn lòng hy sinh tất cả để đạt được.CEO FACEBOOK – MARK ZUCKERBERG, THÀNH CÔNG BẰNG CÁCH NÀO? Đó là lý do Napoleon Hill từng nói: “Khao khát là khởi điểm của mọi thành tựu.”

Vì thế, nếu bạn muốn lặp lại thành công của Mark Zuckerberg; nếu bạn muốn trở nên giàu có và thành công, hãy bắt đầu bằng chính khao khát của bạn. Bạn muốn gì từ cuộc sống này? Bạn muốn mình sẽ ở đâu trong 10 năm tới? Và khi từ giã cõi đời, bạn muốn được nhớ đến nhiều nhất vì điều gì?

2.    Nghĩ lớn
Facebook là một dự án nằm trên máy tính của Mark Zuckerberg và anh hoàn toàn có thể chọn cách bán nó đi, nhưng anh đã từ chối. Anh từ chối bởi cái mà anh tìm kiếm không phải là một khoản tiền; điều anh thật sự quan tâm là Facebook sẽ giúp thế rộng mở hơn, mọi người liên lạc với nhau dễ dàng hơn. Facebook từng là một dự án nhỏ, song giấc mơ của Mark Zuckerberg không hề nhỏ bé.

Bạn thấy gì về công việc hiện tại của mình? Bạn đã làm tốt chưa? Bạn có thể làm tốt hơn nữa không? Bạn phải làm gì để tiến xa hơn và nhanh hơn trên con đường sự nghiệp của mình? Hãy dành thời gian để nhìn lại chặng đường đã qua và lên kế hoạch chuẩn bị cho mục tiêu tiếp theo mà bạn muốn đạt được. Luôn đặt ra cho mình những mục tiêu lớn hơn chính là cách bạn tiến gần đến thành công của chính mình.

http://1.bp.blogspot.com/-8ReOMPzwk2g/UfIzHc5HLEI/AAAAAAAAALs/FIsFPxAY2D0/s1600/mark-zuckerberg.jpg

3.    Tin vào bản thân
Tin tưởng vào bản thân là điều kiện tiên quyết để thành công, và Mark Zuckerberg có thừa sự tự tin. Bạn sẽ không bao giờ tạo dựng thành công trong sự nghiệp bằng cách đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Đừng bao giờ tự đánh giá thấp bản thân; hãy vững tin vào chính mình và những khả năng sẵn có – và bạn sẽ thành công.

4.    Theo đuổi niềm đam mê
Điều gì khiến bạn đam mê? Bạn có sẵn sàng để theo đuổi niềm đam mê ấy? Bạn có sẵn lòng hy sinh cho đam mê của mình? Đây là những câu hỏi bạn cần trả lời nếu muốn lặp lại thành công của Mark Zuckerberg.

Mark Zuckerberg say mê việc lập trình ngay từ thời thơ ấu và không ngừng theo đuổi niềm đam mê của mình, ngay cả khi điều này buộc anh phải mạo hiểm cả cuộc đời mình. Anh đã bỏ dở việc học ở trường đại học chỉ để chắn chắn rằng niềm đam mê của anh không bao giờ tắt. Sự mạo hiểm này đưa anh vào danh sách những triệu phú bỏ học giữa chừng giàu nhất thế giới. Quyết tâm cao độ chính là chìa khóa để tạo dựng nên sự nghiệp lớn từ con số không.

5.    Chấp nhận sự phê bình
Cũng như mọi doanh nhân thành đạt; Mark Zuckerberg luôn phải đối diện với những luồng phê bình chỉ trích. Tuy nhiên, những ý kiến ấy không làm anh nao núng. Sự phê bình là điều cần thiết trên con đường dẫn đến thành công, vì thế, bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để không chỉ chấp nhận mà còn biết cách sử dụng nó như một lực đẩy. Đừng để sự phê bình khiến bạn rơi lại phía sau; thay vì thế, hãy dùng nó như một bước đệm để tiến xa hơn nữa.

http://1.bp.blogspot.com/-6paM-eO3790/UfIzHSI34lI/AAAAAAAAAL0/jnTgVhre96o/s1600/mark-zuckerberg+2.jpg

6.    Đừng sợ thách thức những kẻ khổng lồ
Mark Zuckerberg muốn Facebook trở thành trung tâm của internet, nhưng anh gặp phải một chướng ngại vật, một người khổng lồ không thể lay chuyển với vị thế vững chắc. Đó chính là Google. Mark có e sợ đối mặt với Google không? Câu trả lời là không. Đôi khi, thành công được tìm thấy ngay dưới chân người khổng lồ, nơi nhiều khó khăn và thử thách nhất. Khi đó chỉ có lòng can đảm mới đủ sức đương đầu với sự mạo hiểm và chắc chắn phần thưởng sẽ là xứng đáng. Giờ đây, Facebook từ con số không đã trở thành đối thủ xứng tầm mà gã khổng lồ Google phải luôn dè chừng.

Còn bạn, đừng bao giờ nản lòng khi phải đương đầu với những công việc tưởng chừng như quá sức. Bạn đủ tài năng và can đảm để làm tốt nhất công việc này. Hãy cố gắng hơn chút nữa và thành công sẽ đến!

7.    Tập trung và kiên trì
 “Điều tôi thật sự quan tâm là sứ mệnh của Facebook: khiến thế giới trở nên rộng mở hơn” – Mark Zuckerberg.
Bạn có biết lý do vì sao Facebook có thể đương đầu với Google? Câu trả lời nằm ở việc Mark Zuckerberg đã tập trung hoàn thành sứ mệnh của Facebook. Đó là lý do vì sao những nhân vật thành đạt như Warren Buffett, Bill Gates và Andrew Carnegie luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tập trung. Những nỗ lực phân tán đưa đến kết quả tối thiểu; ngược lại, những nỗ lực tập trung đem lại kết quả tối đa. Vì thế, hãy xác định một mục tiêu rõ ràng cho con đường sự nghiệp và tập trung khả năng và nguồn lực để đạt được mục tiêu đó!

Thành công của Mark Zuckerberg không phải là điều phi thường. Không có gì lạ khi anh trở thành tỉ phú trẻ nhất thế giới. Anh xứng đáng với vị trí hiện tại, bởi anh đã mơ ước, hoạch định và biến ước mơ của mình thành hiện thực. Anh luôn theo đuổi niềm đam mê của mình và toàn tâm toàn ý hoàn thành sứ mệnh Facebook. Trong thành công của Mark Zuckerberg, hoàn toàn không có chỗ cho sự may mắn.

Giáo sư Trần Văn Khê


Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như "Lưu Thuỷ", "Bình Bán vắn", "Kim Tiền", "Long Hổ Hội". Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.

http://4.bp.blogspot.com/-Leve6n9Bi8U/UfIs8g0IxqI/AAAAAAAAAK4/cenhZxtHGe8/s1600/1.jpg

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào "Truyền bá quốc ngữ" trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, "Truyền bá vệ sinh" của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến "đi Hội đền Hùng", và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

http://2.bp.blogspot.com/-6dhlmtqFA88/UfIs8zXesWI/AAAAAAAAAK8/7GMk6aR-6-4/s1600/GS-Khe.jpg

Ra nước ngoài sinh sống từ năm 27 tuổi và đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 55 năm sinh sống tại nước ngoài, Giáo sư Trần Văn Khê quyết định về nước, mang theo 450 kiện hàng chất đầy 1 container, gồm: sách báo, tạp chí, băng đĩa, máy móc, nhạc cụ… mà phần nhiều là những tư liệu quý giá về âm nhạc dân tộc Việt Nam và thế giới.

Tình yêu quê hương

Có một tình yêu rất lớn dành cho âm nhạc dân tộc, đã nhiều lần GS Trần Văn Khê mong muốn về định cư hẳn tại Việt Nam, nhưng ông không thực hiện được chỉ vì một nguyên nhân – ông về nước mà không được mang theo kho tư liệu khổng lồ của mình mà ông đã sưu tầm, lưu giữ suốt mấy chục năm qua. Với ông, đó là cả một gia tài lớn mà ông muốn hiến tặng đất nước, cho những người có chung tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc giống như ông. Mãi đến năm 2004, khi được Sở VH-TT-DL TPHCM đồng ý tiếp nhận số tư liệu này, GS Trần Văn Khê mới chính thức về định cư tại quê nhà và mang theo 450 kiện hàng ra khỏi nước Pháp để lên tàu về Việt Nam và ông cũng đã tự bỏ ra 10.000USD lo chi phí vận chuyển số tư liệu này. 450 kiện hàng ấy đã 4 năm nằm im trong một căn phòng tại Bảo tàng TPHCM, trong quá trình thành phố tìm kiếm nhà cho giáo sư có nơi định cư ổn định. Giờ đây, với căn nhà rộng 200m2 nằm trên một con đường yên tĩnh tại quận Bình Thạnh, GS Trần Văn Khê đã có thể yên lòng khi toàn bộ số tài liệu, tư liệu mà ông công phu mang từ nước ngoài về đã có nơi chốn riêng biệt để bảo quản và được nhân viên Thư viện TPHCM hàng ngày đến phân loại, sắp xếp theo đúng quy chuẩn của một thư viện về sách, báo, tạp chí, tài liệu dành cho việc nghiên cứu, tham khảo.


Đến thăm kho tư liệu, cảm giác thật ngỡ ngàng, xúc động khi được nhìn thấy quá nhiều tài liệu có giá trị và mang đậm tính thời gian. Những cuốn sách về âm nhạc, nhạc cụ dân tộc Việt Nam; những đĩa hát gốc từ những thập kỷ và thế kỷ trước; những băng nhạc cùng vô số máy chụp hình, máy ghi âm và máy nghe nhạc… mà ông đã từng sử dụng trong thời gian 2 năm ông làm báo và thật cảm động khi nhìn thấy gần 100 cuốn sổ tay lớn nhỏ được ông ghi chép trong những lần đi công tác, giảng dạy hoặc được mời tham gia những buổi hòa nhạc, xem phim, thậm chí là những buổi gặp gỡ bạn bè thân tình, những chuyện trao đổi thật riêng tư… Ngoài ra còn có những tấm thiệp nhỏ, hộp diêm bé xíu, mảnh giấy có thủ bút của những người nổi tiếng, như: Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy…

100 cuốn du ký

Nói về kho tư liệu này, GS Trần Văn Khê chia sẻ: “Gần 100 cuốn sổ tay tôi gọi là cuốn du ký và tôi quý lắm. Đi đến đâu tôi đều ghi lại đầy đủ và giữ từ tấm thiệp mời, thư từ của bạn bè, trong đó có cả thực đơn khi đi ăn cùng bạn bè, tôi giữ lại và đưa họ ký vào để làm kỷ niệm. Số sách báo có cái sưu tầm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; có cái tôi mua để xem chơi, nhưng là tài liệu rất tốt cho những ai muốn tìm hiểu về âm nhạc của thế giới. Mỗi cây đàn ở đây đều có “lịch sử” riêng…”. Kho tài liệu của GS Trần Văn Khê được sắp xếp theo ngôn ngữ, bộ môn… và gắn mã số để tiện việc tra cứu, tìm kiếm. Tuy nhiên, vì còn rất nhiều băng từ trong giai đoạn phân định, sang chép sang dạng DVD, CD, nên kho tư liệu này vẫn chưa thể mở rộng cho nhiều đối tượng tham khảo, tiếp cận.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (chi nhánh phía Nam) cũng đã tìm đến GS Trần Văn Khê để thực hiện việc xây dựng phông lưu trữ cá nhân cho ông. Có thời gian theo sát quá trình sắp xếp, phân loại kho tư liệu của GS Trần Văn Khê, bà Võ Thị Xuân Mai, Phó Trưởng phòng Thu thập Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cho biết: “Kho tư liệu của thầy quá phong phú và giá trị, chúng tôi không dám “đụng” tới. Trung tâm chỉ tập trung vào những khen thưởng quốc tế của thầy, quá trình cống hiến, giảng dạy và những kiến thức về âm nhạc dân tộc của thầy đã là một “kho” tư liệu đầy đặn lắm”.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 93, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm: “Muốn sống, muốn mua cái gì cũng được, cũng có. Thi thoảng, vẫn được nơi này nơi kia mời nói chuyện về âm nhạc và được trả thù lao đàng hoàng. 93 tuổi vẫn được như vậy, còn muốn gì nữa”. Tất cả những việc ông làm, đều chỉ với mong muốn làm sao cho thế giới biết và yêu mến âm nhạc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Với cảm nhận của cá nhân người viết, tự bản thân ông, đã cho bạn bè thế giới cảm mến về cốt cách, tài năng của một người Việt Nam đích thực.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận sinh năm 1948 tại Hà Nội. Ông từng theo học trung học tại trường Yersin ở Đà Lạt, rồi trường Jean Jacques Rousseau ở Sài Gòn (nay là trường PTTH Lê Quý Đôn - TP.HCM). Hồi bé, cũng như bao đứa trẻ cùng lứa tuổi tò mò khác, cậu bé Trịnh Xuân Thuận vẫn thường nhìn lên bầu trời, ngắm những vì tinh tú, những ngôi sao đổi ngôi, những biến chuyển không ngừng trên nền trời đêm bao la,... và tự đặt ra cho mình vô vàn câu hỏi.

http://img827.imageshack.us/img827/8136/1i3k.jpg

Sau khi đỗ tú tài trường Jean Jacques Rousseau năm 18 tuổi, Trịnh Xuân Thuận sang Thụy Sĩ du học ngành vật lý. Chỉ sau một năm học ở Thụy Sĩ, nhờ khả năng học tập xuất sắc, chàng sinh viên Việt Nam Trịnh Xuân Thuận giành được học bổng lên thẳng năm thứ hai của ba trường đại học danh tiếng bậc nhất nước Mỹ: MIT ở Boston, Học viện Công nghệ California (California Institute of Technology) và Princeton. Ông quyết định theo học tại Học viện Công nghệ California vì ở đó có những giáo sư giỏi hàng đầu thế giới, có những người đã đoạt giải Nobel.

"Lúc đầu, tôi chỉ biết tiếng Pháp, qua Mỹ không biết tiếng Mỹ, bị cắt hết liên lạc gia đình, đâu có tiền mà về thăm nhà. Xa gia đình, xa đất nước mình, thiếu chỗ nương tựa tinh thần, văn hóa lại khác hẳn nên lúc đầu rất khó khăn", Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nhớ lại những ngày tháng ấy. Ông lần lượt theo học tại Học viện Công nghệ California (California Institute of Technology) từ 1967 đến 1970, và học tại Đại học Princeton từ 1970 đến 1974. Và Trịnh Xuân Thuận đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ tại Đại học Princeton. Từ năm 1976 đến nay, ông là Giáo sư ngành Vật lý thiên văn tại Đại học Virginia. Trong những năm qua, nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận nổi tiếng trong giới nghiên cứu vật lý thiên văn thế giới với nhiều công trình nghiên cứu gây tiếng vang lớn.

Vật lý thiên văn và văn học

Không chỉ nổi tiếng là một trong những nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế giới, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận còn là người đưa vật lý thiên văn, một ngành khoa học cơ bản, trở nên gần gũi với độc giả nhiều quốc gia qua các tác phẩm nổi tiếng do ông viết. Vốn là người thấm nhuần văn hóa Pháp sống và làm việc tại Mỹ, nên tuy Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết những công trình khoa học bằng tiếng Anh, nhưng ông lại viết những tác phẩm về vũ trụ của mình bằng tiếng Pháp. Và ông đã được coi là một nhà nghiên cứu giàu mỹ cảm.

Còn với bạn đọc Việt Nam, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã được độc giả trong nước biết đến qua những tác phẩm nổi tiếng đã được dịch ra tiếng Việt như: Giai điệu bí ẩn, Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, Hỗn độn và hài hòa, Cái vô hạn trong lòng bàn tay (Từ Big Bang đến giác ngộ), Những con đường của ánh sáng, Nguồn gốc… Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã nhiều lần về thăm Việt Nam, tham gia giảng dạy cho sinh viên trong nước tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và tổ chức những buổi nói chuyện về vũ trụ và vật lý thiên văn. Ông là người đã từng được tham gia chính thức trong phái đoàn của nguyên Tổng thống Pháp Mitterrand sang thăm Việt Nam năm 1993.

http://3.bp.blogspot.com/-JyV3mmMlgS8/Ue__X7G6KNI/AAAAAAAAAJ8/fBzW4a0RcOM/s1600/trinh+xuan+thuan+10.05.1.JPG

Đến nay, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã viết hàng trăm bài tiểu luận cùng những tác phẩm về sự hình thành vũ trụ cùng với những thiên hà và sự phát triển của chúng. Các tác phẩm đã trở nên nổi tiếng của ông bao gồm: Giai điệu bí ẩn (1988); Khám phá: Khai sinh vũ trụ; Big Bang và sau đó (1992); Hỗn độn và hài hòa (1998), (2000); Nguồn gốc và nỗi buồn (2003); Lượng tử và hoa sen (2004)... Trong số đó, cuốn Hỗn độn và hài hòa là tác phẩm bán chạy nhất ở nước Pháp năm 2000. Năm 2007, với tác phẩm Những con đường của ánh sáng, Trịnh Xuân Thuận được Viện Hàn lâm Pháp trao Giải thưởng lớn Moron.

Nhận giải thưởng Kalinga năm 2009 của UNESCO

Năm 2009, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận vừa cho ra mắt tác phẩm mới nhất của ông, cuốn Từ điển dành cho những người đam mê bầu trời và các vì sao (Dictionnaire amoureux du ciel et des étoiles). Trong tác phẩm mới này, Trịnh Xuân Thuận còn đề cập đến những hiện tượng lạ trong vũ trụ như nguồn sáng Quasars hay những tín hiệu từ thiên hà Pulsars… Cuốn sách có những mục từ về lịch sử thiên văn học và cả những bài viết mang tính triết học như "khoa học và vẻ đẹp" hay "khoa học và tiện ích".

Theo Giáo sư Trịnh Xuân Thuận, ông tin sự hoàn hảo và hài hòa tuyệt vời của vũ trụ không phải được sinh ra ngẫu nhiên, mà được sáng tạo có chủ ý. Tuy nhiên, "Đấng Sáng Tạo" đó không phải là con người cụ thể, như Chúa hay Phật tổ. Giáo sư cũng tin rằng loài người chúng ta không phải là duy nhất trong vũ trụ và cùng với những tiến bộ của khoa học, rồi đây chúng ta sẽ khám phá ra những hành tinh có thể tồn tại những hình thái sự sống mà chúng ta có thể tiếp cận.

Với sự say mê dành cả cuộc đời để nghiên cứu khoa học thiên văn và đem bầu trời đến với mọi người, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã được UNESCO trao tặng giải thưởng Kalinga về phổ biến khoa học năm 2009. Đây là giải thưởng quốc tế để tôn vinh nỗ lực của những nhà nghiên cứu có nhiều thành công trong công việc phổ biến kiến thức khoa học đến công chúng. Nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận là một trong hai nhà khoa học trên thế giới được tặng giải thưởng Kalinga 2009. Người thứ hai được tặng giải Kalinga năm nay là Giáo sư Yash Pal người Ấn Độ. Giải thưởng này sẽ được trao cho Giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Diễn đàn khoa học thế giới ở Budapest, Hungary vào ngày 5/11/2009.

”Désir d’infini” (Hướng tới vô tận), cuốn sách mới nhất của nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận, vừa ra mắt bạn đọc. Cuộc truy tầm ”cái vô tận” hết sức kỳ lạ, gian truân và đầy bất trắc chủ yếu diễn ra trong nền khoa học phương Tây, nhưng không chỉ ở phương Tây và không chỉ trong địa hạt khoa học, như cuốn sách cho thấy.

Những ai có một tuổi thơ mơ mộng được hướng cái nhìn lên bầu trời cao, hay được chìm vào cái thế giới kỳ diệu của những con số… ắt hẳn đều trải qua cảm giác đứng trước mênh mông vô hạn. Một số người sau đó trở thành nhà khoa học, thành nhà thiên văn nghiên cứu về vũ trụ bao la hay nhà toán học làm việc với thế giới của  hình và số… Tuy nhiên, rất ít người trong số các nhà khoa học tiếp tục để tâm sức theo đuổi cái khát vọng hướng đến vô tận, từng lóe lên thời thơ ấu. Ông Trịnh Xuân Thuận là một trong số những người hiếm hoi như vậy.

Là một nhà vật lý thiên văn học có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về các thiên hà, đặc biệt với việc phát hiện ra I Zwicky 18, một trong các thiên hà trẻ nhất vũ trụ (cùng với nhà khoa học Ukraina Yuri Izotov), Trịnh Xuân Thuận còn có một đam mê riêng, mà ông đeo đuổi từ hàng chục năm nay : viết sách phổ biến khoa học. Năm 2012, toàn bộ các tác phẩm phổ biến khoa học của ông được trao tặng giải thưởng Prix mondial Cino del Duca, giải thưởng quốc tế rất có uy tín dành cho các nhà văn, nhà khoa học viết bằng tiếng Pháp của Viện Pháp – Institut de France. Trước đó, năm 2009, ông cũng nhận được giải thưởng cho các tác phẩm phổ biến khoa học : Giải Kalinga của Unesco.

http://3.bp.blogspot.com/-3IOxrB2uYkA/Ue__YV3ZfVI/AAAAAAAAAKE/VwIyXf5iRN4/s1600/gallimardphoto0.jpg

Nhà vật lý thiên văn đại học Virginia (Hoa Kỳ) đã cho ra đời 12 cuốn sách về thiên văn học viết cho đại chúng bằng tiếng Pháp, được dịch ra nhiều thứ tiếng, mà đa số trong đó đã đến với độc giả Việt Nam quê hương ông, đặc biệt qua các dịch phẩm như : « Giai điệu bí ẩn. Và con người đã tạo ra vũ trụ » in lần đầu 2001 (nguyên bản 1988), « Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận » (Un astrophysicien : entretiens avec Jacques Vauthier) 2001 (1992), « Hỗn độn và hài hòa » 2003 (1998), « Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Từ Big Bang đến Giác ngộ » 2005 (2000) (Trò chuyện của Trịnh Xuân Thuận với nhà sư Matthieu Ricard), « Nguồn gốc – nỗi hoài niệm về những thuở ban đầu » 2006 (2003), « Những con đường của ánh sáng » 2008 (2007)…

« Désir d’infini. Des chiffres, des univers et des hommes » (tạm dịch là « Hướng tới vô tận » theo như tác giả, hay cũng có thể là « Khát khao vô tận » để chuyển dịch được rõ hơn từ « désir» [ham muốn] trong tiếng Pháp) là cuốn sách mới nhất của Trịnh Xuân Thuận, do nhà xuất bản Fayard ấn hành, vừa ra mắt bạn đọc. Trong cuốn sách này, nhà thiên văn học đưa công chúng đến với các tri thức về khoa học vũ trụ hình thành nên qua nhiều thế kỷ tìm kiếm, cũng như các phát hiện mới đây, xoay quanh một chủ đề trung tâm : sự truy tầm « cái vô tận ». Cuộc truy tầm hết sức kỳ lạ, gian truân và đầy bất trắc chủ yếu diễn ra trong nền khoa học phương Tây, nhưng không chỉ ở phương Tây và không chỉ trong địa hạt khoa học, như cuốn sách cho thấy.

Trong số các nghiên cứu mới, « Hướng tới vô tận » dành nhiều trang cho việc mô tả và tranh luận với các lý thuyết đa vũ trụ (multivers), mới nổi lên từ vài thập niên gần đây. « Đa vũ trụ » là giả thuyết nghiên cứu được một số nhà khoa học kỳ vọng sẽ mang lại những thay đổi cách mạng cho ngành vũ trụ học sau nhiều thập kỷ nữa, tương tự cuộc cách mạng Copernic trước kia.

Bên cạnh đó, nhà khoa học đã dành phần cuối tác phẩm để giải bày với công chúng những câu hỏi đầy ưu tư của ông về các vấn đề tối hậu của thế giới tự nhiên như : nguồn gốc và tương lai của vũ trụ hay các vấn đề đạo đức – đạo lý trong một thế giới nhân sinh, mà ở đó cái vô tận hay cái bất định có xu hướng trở thành một ám ảnh thường trực. Có độc giả cho rằng, để hiểu được «Hướng tới vô tận » cần đọc các tác phẩm trước đó của Trịnh Xuân Thuận, bởi cuốn sách mới này của nhà vật lý thiên văn đề cập đến rất nhiều vấn đề, từ nhiều góc nhìn khác nhau.

« Désir d’infini » của Trịnh Xuân Thuận nhắc chúng ta nhớ đến tác phẩm ra đời  hơn nửa thế kỷ trước của nhà triết học và sử học khoa học người Pháp gốc Nga Alexandre Koyré « From The Closed World To The Infinite Universe/Từ thế giới đóng cho đến vũ trụ vô tận » (1957) (được dịch sang tiếng Pháp với tên gọi « Du monde clos à l’univers infini » [1962]), phục dựng lại những diễn biến lớn của cuộc cách mạng khoa học ở Châu Âu thế kỷ XVII-XVIII, với những mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa khoa học, triết học và thần học.

Một trong những điểm độc đáo trong « Hướng tới vô tận », cũng như nhiều tác phẩm của Trịnh Xuân Thuận, là khát khao tìm kiếm các đối thoại giữa khoa học vật lý thiên văn với các truyền thống triết học tâm linh, đặc biệt là triết học Phật giáo, giữa thế giới khoa học dựa trên những gì quan sát và kiểm chứng được với thế giới của trực giác, trải nghiệm, niềm tin hay các ý niệm thuộc lĩnh vực siêu hình.

Trịnh Xuân Thuận thường xuyên nhấn mạnh đến sự độc lập của ông với tư cách một nhà nghiên cứu và ông không để cho bất cứ một tiên nghiệm triết học (a priori philosophique) nào ảnh hưởng trực tiếp đến công việc này, cho dù, đời sống tâm linh là không thể thiếu được với ông, giúp ông sống tốt hơn, quan hệ tốt hơn với xung quanh (« Le cosmos et le lotus », tr. 258). Khẳng định mình là người theo Phật, Trịnh Xuân Thuận cũng không ngừng đối thoại hay tranh luận với những nguyên lý hay tín điều của truyền thống triết học tâm linh này và dường như sẵn sàng để sang một bên tín lý nào không thỏa mãn các đòi hỏi của tư duy.

Tiếp cận về mối quan hệ giữa khoa học và triết học – tâm linh, mà Trịnh Xuân Thuận vén lên, rất được chú ý. Năm 2009, nhà xuất bản Albin Michel ra cuốn « Le Monde s’est-il crée tout seul ?/Thế giới liệu có thể tự mình hình thành hay không ? », đưa ra sáu tiếp cận khác nhau về lĩnh vực nằm ở ranh giới giữa khoa học và triết học này. Trịnh Xuân Thuận là một trong sáu người trả lời phỏng vấn nhà báo Patrice van Eersel, cùng với các nhà khoa học như giải Nobel hóa học người Bỉ gốc Nga Ilya Prigogine, hay nhà triết học – vật lý sinh học Pháp Henri Atlan, chuyên gia về các hệ thống tự tổ chức…

Từ thế giới các thiên hà xa xôi, cái nhìn của nhà thiên văn hướng về Trái đất. Một trong những điều khiến lương tri ông nổi sóng là thái độ vô trách nhiệm của các tác giả những phát minh tân kỳ, được sử dụng vào các mục tiêu gây thảm họa cho con người, tàn phá hành tinh Xanh. Ông viết : « […] một trong những nghĩa vụ thiêng liêng của nhà khoa học là phổ biến các phát hiện của mình, thông tin đến công chúng tri thức của mình, và báo động với công chúng về những nguy cơ của các ứng dụng nguy hiểm » (« Le cosmos et le lotus », tr. 250). Trong phần cuối «Hướng tới vô tận », Trịnh Xuân Thuận quan tâm đến một vấn đề mới : « sociologie de l’immortalité » (xã hội học về sự bất tử), hay nói cách khác những ưu tư của ông trước tham vọng của con người hiện đại muốn trẻ mãi không già. Độc giả có cảm nhận một đối thoại của ông với các nhà nghiên cứu về xã hội và về con người trong xã hội sẽ mở ra những chân trời mới.      

Giáo sư Ngô Bảo Châu

 GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội, là con duy nhất của GS TSKH Ngô Huy Cẩn, chuyên gia hàng đầu về cơ học và PGS TS Trần Lưu Vân Hiền. Anh từng học tại trường thực nghiệm Giảng Võ, trước khi vào khối chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội).

http://3.bp.blogspot.com/-j8p4Tbkhx0I/Ue_4ogAbjKI/AAAAAAAAAJs/WIHlNAFSfFU/s1600/Ngo+Bao+Chau.jpg

Năm 1988, Bảo Châu tham dự kỳ thi Olympic Toán quốc tế tại Australia và giành huy chương Vàng. Năm sau, anh tiếp tục giành huy chương vàng Olympic Toán quốc tế tại Đức. Cũng trong năm 1989, anh sang Pháp học tại ĐH Paris 6 và bảo vệ luận án tiến sĩ khi mới 25 tuổi tại ĐH Sư phạm Paris - ngôi trường danh tiếng bậc nhất nước Pháp. Năm 2003, ở tuổi 31, anh hoàn thành luận án habilitation (tương đương tiến sĩ khoa học) tại ĐH Paris 11 và đầu năm sau trở thành giáo sư của đại học này.

Năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm giáo sư và trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất Việt Nam. Năm 2007, sau khi chứng minh được “Bổ đề cơ bản”, một giả thuyết then chốt của Chương trình Langlands, anh được trao Giải thưởng Oberwolfach của Đức, Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.

Từ năm 2007 đến nay, GS Ngô Bảo Châu trở thành giáo sư đặc biệt tại Viện Toán học Việt Nam và tháng 9 tới, GS Ngô Bảo Châu sẽ bắt đầu làm việc tại khoa Toán ĐH Chicago (Mỹ).

Đầu tháng 8, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã mời Ngô Bảo Châu về Việt Nam công tác và đóng góp cho chương trình nhằm đưa nước ta trở thành cường quốc về Toán. Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020, với tâm điểm là xây dựng Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán.

Ngày 19/8/2010 tại lễ khai mạc Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ, bà Pratibha Patil - Tổng thống Ấn Độ đã trao huy chương Fields - giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực toán học cho GS Ngô Bảo Châu.

Đây là niềm tự hào của người Việt Nam nói chung, của thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng, khi trí tuệ Việt vươn lên đỉnh cao của khoa học nhân loại và được khẳng định trên trường quốc tế.

Bà Pratibha Patil - Tổng thống Ấn Độ trao huy chương Fields - giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới cho GS Ngô Bảo Châu.
Khi Đại hội Toán học thế  giới vừa xướng tên GS Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields, những người có mặt như vỡ òa ra trong niềm vui khôn tả, tự hào vì người Việt Nam đã chinh phục được đỉnh cao của nền khoa học nhân loại.

GS. Ngô Bảo Châu (thứ hai, bên trái) cùng các nhà Toán học quốc tế tại lễ khai mạc Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ ngày 19/8/2010.
GS Lê Tuấn Hoa, Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam khẳng định: “Giải thưởng Fields mà GS Ngô Bảo Châu đạt được không chỉ có ý nghĩa ở Việt Nam mà còn có ý nghĩa lớn trong khu vực và thế giới. Việt Nam là một đất nước nghèo, không có truyền thống về khoa học, về Toán lại được giải thưởng Fields. Nó đã chứng minh, nếu có cách làm đúng thì những người từ vùng lạc hậu như đất nước chúng ta cũng có thể đạt được đỉnh cao trong khoa học. Đó là ý nghĩa sâu sắc đối với quốc tế”.

GS. Ngô Bảo Châu trở thành người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng danh giá Fields. (Ảnh: Bùi Tuấn)
Đằng sau sự thành công trong khoa học của GS Ngô Bảo Châu là sự đóng góp lớn lao, âm thầm của mẹ anh PGS.TS Trần Lưu Vân Hiền. Bà đã từng tâm sự với báo chí rằng: "Bổ đề cơ bản" là người bạn thân thiết của Châu suốt 15 năm qua, nhưng khi Châu chứng minh được bổ đề này thì nó lại là của mọi người, không còn là của riêng Châu nữa. Cô cũng vậy, mừng cho con nhưng thấy lòng một chút hụt hẫng, trống trải, Châu được nhiều người biết đến thì cảm giác không thuộc về riêng mình nữa".

Giải thưởng Fields được như Giải thưởng Nobel trong Toán học, bởi vì theo di chúc từ năm 1901 của người sáng lập Thụy Điển A. Nobel, Giải thưởng Nobel không dành cho Toán học. Thế nhưng Giải thưởng Fields lại chỉ được trao cho những thiên tài toán học phát lộ sớm, vì điều kiện tiên quyết của nó là chỉ trao cho những người không quá 40 tuổi vào năm trao giải.
Cứ bốn năm một lần, Giải thưởng Fields được trao tại các kì Đại hội Toán học thế giới và mỗi lần có không quá  4 người được nhận. Như vậy, tính bình quân, mỗi năm có tối đa một người được nhận Giải thưởng Fields.
Trong 70 năm qua, 1936 - 2006, cả thế giới có tất cả 48 nhà toán học được trao Giải thưởng Fields. Mới chỉ có 11 nước vinh dự có  công dân của mình đạt Giải thưởng Fields. Đó là: Mỹ, Pháp, Nga, Anh, Nhật, Phần Lan, Italia, Thụy Điển, Đức, New Zealand và Úc, trong đó chỉ có 3 người có quốc tịch châu Á, đều là người Nhật và có hai người gốc Hong Kong - Trung Quốc là  Shing-Tung Yau (quốc tịch Mỹ ) và Terence Tao (quốc tịch Úc) đã được trao Giải thưởng Fields.

Ông Nguyễn Bá Thanh

Từ một anh chủ nhiệm hợp tác xã, ông Nguyễn Bá thanh đã để lại những dấu ấn đặc biệt từ khi nhậm chức Bí thư thành ủy Đà Nẵng và sau đó là Trưởng ban Nội chính Trung ương.

http://4.bp.blogspot.com/-VRewbvwfH_s/Ue_0XPuFfXI/AAAAAAAAAJc/5vf5VYAISeo/s1600/Ba+Thanh.jpg

Từ ông chủ nhiệm hợp tác xã...

Xuất phát điểm con đường sự nghiệp của ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng - Nguyễn Bá Thanh là từ một anh chủ nhiệm hợp tác xã.

Sinh ngày 8/4/1953 ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Việt Nam.
Ông Nguyễn Bá Thanh thăm Bệnh viện Sản - Nhi Đà Nẵng. Ảnh: Internet 

Con đường công danh sự nghiệp của ông Thanh tiến dần từng bậc, trải qua nhiều vị trí công tác. Sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội, ông Thanh công tác tại Hợp tác xã Hòa Nhơn và giữa chức Chủ nhiệm.

Sau đó, ông trải qua các vị trí Phó Bí thư Huyện ủy Hòa Vang, Giám đốc Nông trường Chè Quyết Thắng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1996, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng. Năm 2003, ông Nguyễn Bá Thanh bắt đầu giữ chức vụ Bí thư thành Ủy Đà Nẵng.

Trên cương vị Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh chủ trương thực hiện một số chính sách, xây dựng Đà Nẵng thành thành phố “5 không”, là trung tâm khu vực miền Trung về các mặt - một “thành phố đáng sống”.

... Đến những việc làm khác người

Từ khi giữ chức Bí thư thành ủy kiêm Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, đặc biệt vào hai năm nay trở lại đây, ông Nguyễn Bá Thanh là nhân vật thu hút sự quan tâm của dư luận. Với những phát ngôn thẳng thắn, quyết liệt, những hành động mang tính dấu ấn mà những người tiền nhiệm chưa có điều kiện để làm, ông được dư luận coi như một “hiện tượng”.

Việc làm được coi là “phát súng” đầu tiên của kế hoạch lập lại kỷ cương của ông Nguyễn Bá Thanh là kỷ luật cảnh cáo Giám đốc sở Xây dựng và cách chức Trưởng Ban quản lý các dự án xây dựng và công nghiệp dân dụng Đà Nẵng.

Tuyên bố này được ông công bố trong bài phát phát biểu cuối cùng ở cương vị Chủ tịch UBND thành phố trước khi chuyển hẳn sang đảm nhận chức vụ Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng, chiều 23/7/2003. Đây cũng là lần đầu tiên một quyết định như vậy được công bố công khai tại kỳ họp HĐND thành phố. Ông tuyên bố, đây là cách để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong đội ngũ cán bộ.

Từ đó đến nay, những phát ngôn đi đôi với việc làm “gây sốc” tương tự của ông Thanh vẫn được “giữ lửa”.

Tại một buổi nói chuyện với hơn 4.500 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của Đà Nẵng vào sáng 24/2, ông Nguyễn Bá Thanh từng chỉ rõ: “Do không ai để ý nên ở Văn phòng UBND thành phố đã xuất hiện mấy “ông trời con” chuyên liên lạc với các dự án, làm rối tung lên” và yêu cầu chủ tịch UBND TP xử lý.

Tiếp đó, trước việc người dân liên tục phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại KCN Thủy sản Âu Thuyền (quận Sơn Trà) nhưng không được giải quyết, ông Nguyễn Bá Thanh yêu cầu giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường đến ngủ tại nơi người dân nêu để thấu hiểu nỗi khổ của họ.

Yêu cầu này được ông Thanh phát biểu thẳng thắn trong buổi chất vấn Giám đốc Sở TN-MT Nguyễn Điểu tại kỳ họp thứ 4 HĐND TP Đà Nẵng đầu tháng 7 vừa qua. Kết quả, sau gần một tháng, tình trạng ô nhiễm môi trường ở KCN Thủy sản Âu Thuyền đã được giải quyết.


Chuyện chưa kể về Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh
Ông Nguyễn Bá Thanh xuống từng người dân để ghi nhận phản ánh. Ảnh: Internet 

Gần đây nhất, vào cuối tháng 10, khi những bức xúc của người dân về dự án “Mở rộng khu gia đình cán bộ công chức Lữ đoàn 532” lọt đến tai, ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng đã đích thân vi hành. Sau khi phát hiện, dự án được cấp phép trái quy định cùng nhiều sai trái của cơ quan công quyền địa phương, ông lập tức ra quyết định đình chỉ dự án và yêu cầu truy đến cùng trách nhiệm của những cơ quan, cá nhân liên quan.

Không chỉ nghe ngóng dư luận, ông Thanh còn xuống gặp từng người dân để ghi nhận những bức xúc của họ rồi yêu cầu lãnh đạo địa phương xử lý dưới sự giám sát chặt chẽ của ông.

Tại buổi đối thoại đầu tiên với người dân làng phong Hòa Vân khi vừa được chuyển vào nơi ở mới trên đất liền (sáng 5/9), ông Nguyễn Bá khẳng định: “Tôi nói là làm, không có chuyện chạy làng”.

Những phát ngôn "bạo miệng"... để đời

Bên cạnh những việc làm cụ thể, ông Thanh “nổi tiếng” với những phát ngôn “bạo miệng”, để đời. Câu nói gây “sốc” mới nhất của ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng được thốt ra tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 5 HĐND TP Đà Nẵng khoá VIII (chiều 6/12).

Sau vài tiếng ông Giám đốc Sở TN-MT Nguyễn Điểu hớn hở thông báo kết quả Đà Nẵng được công nhận nằm trong ‘top” 20 thành phố "sạch nhất thế giới", ông Thanh thẳng thắn bày tỏ sự “ngạc nhiên”, nghi ngờ về thứ hạng này.

Ông Thanh nói: “Nghe thế giới họ khen mình là một trong 20 thành phố thế này, thế kia về môi trường, tôi không biết mấy thành phố khác còn bẩn đến cỡ nào nữa? Mình đi các nơi, thấy nhiều thành phố hấp dẫn rứa mà răng tự nhiên mình cũng nằm vô một trong 20 thành phố. Không biết mấy ổng chấm kiểu chi mà tui thấy chưa sướng lắm!".

"Chắc mấy ổng không đi vào cái chỗ mà hôm trước tôi với anh Huy (ông Trần Văn Huy, Bí thư quận uỷ kiêm Chủ tịch UBND quận Thanh Khê) lội vô ở gần ven sân bay. Mấy ổng tới đó chắc không chấm điểm Đà Nẵng đâu. Úi chu cha, đô thị chi rứa mà là đô thị? Ăn ở mất vệ sinh, rác rưới vất tùm lum ra như thế!", ông Thanh nói thêm.

"Dù muốn hay không thì họ cũng công bố rồi. Mình lỡ "bị" công bố nên phải làm cho tốt hơn, chứ làm không đạt là mang tiếng", ông Nguyễn Bá Thanh tuyên bố.

Cũng trong phiên phiên bế mạc kỳ họp thứ 5 HĐND thành phố Đà Nẵng khoá VIII, khi tổng kết những vấn đề liên quan đến nạn cướp giật, đòi nợ thuê, ma túy, ông Thanh khẳng định “Chính quyền phải có trách nhiệm bảo vệ cuộc sống của người dân. Một bộ máy hùng hậu mà không bảo vệ được cuộc sống người dân là quá kém, không thể chấp nhận được”.

Tại phiên thảo luận ngày 5/12, khi nhắc đến vụ bọn cướp chặt tay một cô gái trẻ ở TP.HCM, cướp xe máy ngay giữa ban ngày, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh nói: "Cái gan của tôi là quất cái án chung thân, kiếm hòn đảo cho ra vĩnh viễn ngoài đó, đừng lưu luyến gì hết!".

Tổng kết những ý kiến liên quan đến phản ánh cảnh sát giao thông “ăn tiền” của người dân, ông Thanh yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp cảnh sát có hành vi này. “Bắt quả tang cảnh sát giao thông nhận tiền là tước quân tịch, đuổi về nhà chớ không khiển trách chi hết!”, ông Thanh nói.

Trước đó, Bí thư thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh cũng đã “sở hữu” hàng chục phát ngôn “chính chủ” ấn tượng: “Có những khoản nợ không phải xấu mà là quá xấu”, “Làm thì phải có lửa! Ai mệt quá thì giơ tay xin nghỉ”, “Cán bộ không nên giống con cá heo biểu diễn chờ cho ăn mới chịu diễn còn không cho ăn thì thôi.

Cán bộ như thế là không được!”, “Đà Nẵng không có chuyện chạy chọt mà chỉ cần phấn đấu”, “Cái được lớn nhất của Đà Nẵng trong thời gian qua là được lòng dân”, "Phải biến Đà Nẵng thành đô thị đáng sống chứ không phải là thành phố chán sống trong tương lai”.

Có thể nói rằng, với những phát ngôn thẳng thắn và những hành động đi đôi với lời nói của ông Nguyễn Bá Thanh, người dân Đà Nẵng nói riêng, cả nước nói chung kỳ vọng nhìn thấy một Đà Nẵng hoàn toàn đổi mới trong thời gian tới.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, ngày 28/12/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 158-QĐ/TW về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương; Quyết định số 159-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Nội chính Trung ương.

Cùng ngày, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Quyết định số 160-QĐ/TW về việc thành lập Ban Kinh tế Trung ương; Quyết định số 161-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Kinh tế Trung ương.

Bộ Chính trị cũng ban hành các Quyết định số 655-QĐNS/TW về việc phân công ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương.

Đồng thời, Quyết định số 656-QĐNS/TW của Bộ Chính trị phân công ông Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Kinh tế Trung ương.

Theo Kiến thức

Tiểu thuyết ảnh về Mark Zuckerberg và Steve Jobs

Hai trong số những nhân vật đình đám được thế giới ngưỡng mộ đã có mặt trong một thể loại mới - Tiểu thuyết hình ảnh (Graphic Novel), đó là Steve Jobs và Mark Zuckerberg.  

http://4.bp.blogspot.com/-7BFJ1hoFEZk/UfI2qXjnL9I/AAAAAAAAAMI/IRt_qucq2H8/s1600/photo.jpg

Cuốn sách kể cuộc đời phù thủy công nghệ Steve Jobs và chàng tỉ phú trẻ tuổi Mark Zuckerberg, cha đẻ của mạng xã hội Facebook đang vươn lên trở thành đế chế đầy quyền lực.

Steve Jobs – Nhà đồng sáng lập Apple

“Khi thế giới vinh danh những con người nổi tiếng, có một cái tên gắn liền làm một với hãng máy tính Apple với sự cách tân: Steve Jobs. Tên ông được biết tới trong mọi gia đình, mọi quốc gia và hầu hết chúng ta đều có trong tay một sản phẩm của Apple. Chúng ta đã biết những gì con người ấy ngoài cái tên đã trở nên quá đỗi quen thuộc?” – Cuốn sách đã bắt đầu bằng một câu hỏi như thế!

 
Cuộc đời của Steve Jobs, phù thủy công nghệ, CEO thiên tài, nhà đồng sáng lập Apple chứa đựng những bí ẩn khác biệt và sức hút khó cưỡng. 





 
Giây phút ông rời bỏ thế giới, người ta hiểu rằng mọi dấu ấn ông để lại sẽ không bao giờ có thể xóa mờ.

 
Lật giở cuốn truyện tranh màu về Steve Jobs và hình dung về cuộc đời ông, chúng ta sẽ hiểu, vì sao Steve Jobs mãi mãi là một huyền thoại công nghệ được cả thế giới ngưỡng mộ.


Mark Zuckerberg – Cha đẻ Facebook

Facebook, mạng xã hội đang làm mưa làm gió khắp thế giới, kênh kết nối cực kỳ hữu ích cho các teen chúng mình. Song, ít ai biết, sự ra đời của Facebook thoạt đầu chỉ đơn giản là một ý tưởng “cho vui” của cậu sinh viên đại học Mark Zuckerberg. 

 

Mark Zuckerberg, tỉ phú trẻ nhất thế giới, cha đẻ của đế chế quyền lực Facebook, đã bắt đầu và trải qua chặng đường sáng tạo như thế nào? Thành công và vinh quang của Mark bắt đầu từ đâu?



 

Cuốn sách còn khơi gợi nhiều hình dung rất thú vị về cuộc sống của những sinh viên Mỹ, những chàng trai Harvard tham vọng, giỏi giang và cũng có một tuổi trẻ bồng bột như bất kì ai.

 
Cùng khám phá thể loại sách mới lạ này để tìm hiểu hành trình Facebook vượt ra khỏi những bức tường trường đại học và thay đổi thế giới như thế nào bạn nhé!

Theo Kenh14

Ông Trương Gia Bình

Vào cuối năm 1998, khi FPT tròn 10 tuổi thì Trương Gia Bình đã là một người nổi tiếng không chỉ ở Ấn Độ mà cả ở Mỹ. Còn ở Việt Nam quê hương ông, nơi mà một viên tướng nhỏ của FPT cũng dám mơ làm thủ tướng thì sự nổi tiếng của ông quả là không có giới hạn. Là một người thông minh, ông biết cơ hội của mình đã đến và là một người giàu tham vọng, ông không có ý định để cơ hội cứ thế trôi qua. Vào thời điểm năm 1998, ông và các cộng sự của mình đã dựng nên một công ty tin học có tiếng tăm lẫy lừng, bề thế hơn cả công ty Microsoft lúc mới ra đời. Lễ kỷ niệm 10 năm và lễ đón nhận Huân chương lao động hạng hai của công ty FPT là một sự kiện gây nhiều dư luận đến mức hàng tháng sau dân Hà Nội vẫn còn bàn tán.
http://4.bp.blogspot.com/-VuibwxePjAY/Ue9q8S3b2FI/AAAAAAAAAI4/yTv2GSIMxBA/s1600/truong-gia-binh.jpg

Thông thường sau những thành công như thế thì người ta bắt đầu hưởng thụ. Nhưng Trương Gia Bình không phải là người thường. Ông chưa có ý định hưởng thụ và ông đã thuyết phục được hầu hết các cộng sự của mình có chung ý chí đó.

Trị quốc

Trong những ngày này, câu hỏi duy nhất trăn trở trong đầu ông Bình là: làm thế nào để chuyển hướng FPT đang rất thành công ở các lĩnh vực khác sang xuất khẩu phần mềm?

Là con rể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng lỗi lạc nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20, ông Bình chịu ảnh hưởng nhiều phong cách lãnh đạo "lấy dân làm gốc" của vị tướng này. Ông không muốn quyết định một cách độc đoán, quân chủ. Ông thực tâm muốn thi hành dân chủ. Sẽ có những người vô trách nhiệm, phát biểu lung tung. Nhưng ông không sợ. Ông tin vào đa số sẽ ủng hộ ông. Nhân viên nào chống quá, cùng lắm ông cho nghỉ không ăn lương.

Một chiến dịch học tập và quán triệt tinh thần xuất khẩu phần mềm đã diễn ra, kết thúc bằng hội nghị tổng kết rầm rộ tại Đồ Sơn có tên là "Hội nghị Diên hồng" - trùng tên với một hội nghị nổi tiếng trong lịch sử của các vua Trần lấy ý kiến toàn dân nên hòa hay nên đánh giặc Thát vào thế kỷ 13.

Nhưng diễn biến của Hội nghị Diên hồng tại Đồ Sơn lại không hoàn toàn như dự kiến của ông. Tham luận đầu tiên gây sự hưng phấn rất cao là của Đỗ Cao Bảo với tiêu đề "Xây dựng một hình ảnh FPT mới". Là một tướng lắm tài, nhiều chiến công nên ông Bảo nói gì người ta cũng nghe. Ông Bảo cho rằng, FPT hôm nay không còn là công ty số một quốc gia mà là con chim đầu đàn, nên mỗi hành động của FPT sẽ được các công ty khác bắt chước, sao chép lại. Điều này vô cùng nguy hiểm vì khả năng sáng tạo của FPT không phải là vô hạn. Để khắc phục nhược điểm này, ông Bảo đề nghị là phải có một số hư chiêu. Xuất khẩu phần mềm nếu thành công thì tốt, ngược lại nếu thấy khó khăn quá thì ta vẫn thổi lên biến thành hư chiêu, dụ CMC lao vào cho bõ ghét.

Một công thần bảo thủ khác là ông Bùi Quang Ngọc cho rằng tin học trong nước vẫn là quả đấm thép. Phụ trách FPT phía Nam, ông Hoàng Minh Châu thì cho rằng phương hướng sắp tới của chi nhánh là xây trụ sở mới cho tương xứng với hình ảnh của một công ty đầu đàn.

Báo cáo của ông Phan Ngô Tống Hưng về vai trò của Phi tin trong hệ thống FPT "FPT phải đi bằng hai chân" lại càng làm cho "tiêu điểm xuất khẩu phần mềm" bị mờ hơn. Ông Lê Quang Tiến cũng ủng hộ ông Hưng, cho rằng, bây giờ khó khăn thì Phi tin mới là cứu cánh vì không phải bỏ vốn, không phải đầu tư...

Cho đến khi báo cáo đinh của Hội nghị "Chết hay là Xuất" do ông Nguyễn Thành Nam trình bày thì hầu hết mọi người đã bội thực về các định hướng chiến lược khác nhau. Mặc dù có tài biến báo, ông Nam cũng không thuyết phục được ai nhổ lúa để trồng cà phê xuất khẩu, kể cả việc ông đã hù dọa mọi người năm tới mất mùa lúa, c... cũng không có mà ăn.
Ông Bình rất buồn vì một ngày trôi qua mà chẳng thêm được tướng lĩnh nào chia sẻ quyết tâm "xuất khẩu phần mềm" của ông. Trong bữa nhậu tối, như thường lệ, ông Tiến lại cống hiến cho cử tọa các chuyện cổ kim đông tây, chuyện nào cũng buồn cười.

Khi ông Tiến kể đến đoạn "Lưu Bị than thở gần năm mươi tuổi đầu mà vẫn phải đi ở nhờ đất của Lưu Chương" thì ông Bình bỗng ôm mặt khóc hu hu, ai can cũng không được. Ông vừa khóc vừa nghẹn ngào nghe thật thương tâm: "Ta nay ngoài bốn chục tuổi đầu cũng chỉ biết mua rẻ bán đắt, một phần mềm cỏn con như Microsoft Office cũng không tự làm ra được, phải cúi mặt sài chùa. Nghĩ lại xấu hổ quá, thật không bằng cả cái tên Lưu Bị, Lưu Bịch ngày xưa, các ngươi bảo ta không đau lòng sao được!".

Chính cảm xúc chân thật trong lúc có hơi men của ông đã thuyết phục được mọi người và ngày hôm sau cả hội nghị đã nhất trí chào nhau bằng câu "xuất hay là chết". Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn có thể coi là hòn đá đầu tiên của công cuộc kiến tạo ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam mà ông Bình là người chủ xướng quan trọng nhất.

Những người không có cơ hội gần gũi ông Bình sẽ không bao giờ hiểu được ông là người có nghị lực và quyết tâm lớn lao nhường nào. Ông hiểu thành công của Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn chỉ là khởi đầu. Sự ủng hộ của các tướng lĩnh mới chỉ ở lời nói chứ chưa phải bằng việc làm. Mà ai cũng đang bận làm một việc gì đó, nên ông sẽ là người duy nhất trong lúc này phải lo giải quyết từng việc một. Ông Bình thuộc típ người, càng khó khăn, tiềm năng trong ông càng trỗi dậy.
Việc đầu tiên là ông nói chuyện với Lê Quang Tiến, Phó Tổng giám đốc Tài chính, một nhân vật đang giữ toàn bộ tiền của FPT. Vốn thông minh, nên ông Tiến nhanh chóng đồng ý xuất khẩu phần mềm là một định hướng đúng.

Nhưng là con người tài chính - rất thực tế, ông nghi ngờ khả năng cụ thể của đội ngũ phần mềm FPT nói riêng và Việt Nam nói chung. Sau nhiều ngày thảo luận ông Tiến đã đồng ý chi khoản ngân sách một triệu đô la Mỹ cho dự án đầu tư phát triển phần mềm xuất khẩu. Không biết một triệu là nhiều hay ít, ông Bình hoàn toàn thỏa mãn về nguồn lực tài chính đã được đảm bảo này.

Một vấn đề quan trọng khác đối với xuất khẩu phần mềm là quy trình sản xuất. Vào thời điểm đó FPT còn chưa có chính sách chất lượng. Các quy trình sản xuất kinh doanh hoặc chưa có, hoặc có thì cũng chẳng ra gì. Ông Bình nói chuyện với Lê thế Hùng, một bộ óc điện tử của FPT, phó tiến sĩ toán lý.

Rất yêu mến Trương Gia Bình, ông Hùng nhận ngay trách nhiệm xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng ISO 9001 cho toàn bộ các quá trình của FPT, trong đó đặc biệt chú trọng đến quá trình sản xuất phần mềm. Đối với ông Bình, FPT đã là công ty ISO 9001 ngay sau khi ông Hùng nhận lời, mặc dù tổ chức chứng nhận chất lượng quốc tế BVQI đến cuối năm 1999 mới công nhận điều đó.

Để triển khai kinh nghiệm 10 năm "con người là cốt lõi của thành công", ông Bình đã phát động một chiến dịch cầu hiền tài. "Chiếu cầu hiền tài" của ông đăng trên báo Chúng ta và được nhiều báo khác đăng tải lại đã gây xúc động mạnh mẽ trong giới trẻ. Hai câu lạc bộ tài năng trẻ FYT ra đời, quy tụ hầu hết những học sinh sinh viên giỏi nhất nước, trong đó có nhiều em vừa đoạt các giải cao trong các kỳ thi toán học, tin học quốc tế.

Một trong các nỗ lực cầu hiền tài đã đưa về FPT một ngôi sao sáng trong làng phần mềm Việt Nam lúc đó là Henry Hùng. Ông Henry là bạn học thời sinh viên với Phan Ngô Tống Hưng. Là người có hoài bão lớn lao và biết truyền cảm xúc sang người đối thoại, ông Bình không khó khăn gì trong việc thuyết phục ông Henry đang lạc lối giữa trời Tây về với FPT chính nghĩa. Chính ông Henry là người đưa khách hàng phần mềm quốc tế đầu tiên cho FPT: công ty Winsoft-Canada.

Một vấn đề làm đau đầu ông Bình là khả năng giao tiếp với thế giới. Do người Mỹ không nói được tiếng Việt nên chúng ta buộc phải nói tiếng Mỹ. Đây là bất lợi lớn nhất của Việt Nam so với Ấn Độ khi làm việc với thị trường Mỹ. Hệ thống giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua không thực sự coi trọng dạy ngoại ngữ. Hầu hết các cử nhân tin học, ngoài tiếng Việt ra, chẳng nói được bất cứ một thứ tiếng nào khác.

Theo kinh nghiệm của bản thân, ông Bình hiểu rằng, quan trọng nhất đối với việc học ngoại ngữ là tạo ra được môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên. Vì vậy, ngoài các lớp học ngoại ngữ nâng cao, các kỳ thi toefl... ông yêu cầu mọi nhân viên phần mềm phải giao dịch và báo cáo bằng tiếng Anh. Lúc đầu các báo cáo đều rất ngắn, thường chỉ vài dòng. Nhưng sau hai tháng duy trì, có lúc ông đã rất ngạc nhiên khi nhận được báo cáo bằng tiếng Anh dài tới mấy chục trang.


Bình Thiên hạ

Ngày 13 tháng 6 năm 1999, một bộ phận tinh nhuệ từ Xí nghiệp Giải pháp Phần mềm FSS được tách ra thành một FSU (FPT Strategic Unit), lãnh ấn tiên phong thực hiện gia công phần mềm đầu tiên có tên là Life-Serve, một phần mềm bảo hiểm nhân thọ của công ty Winsoft.

Để động viên cán bộ của mình, ông Bình đã gọi họ là những chiến sĩ trên tiền tuyến và cam kết là những người còn lại - hậu phương lớn sẽ làm tất cả những gì cần làm để tạo điều kiện cho tiền tuyến chiến thắng.

Ông cũng phong cho hai đồng Giám đốc của FSU những chức vụ còn to hơn cả chính ông: Henry Hùng làm Chinh Tây Đại nguyên soái, Nguyễn Thành Nam làm Bình Tây Đại nguyên soái. Nhưng ông không phải là người dễ dãi. Ông nói với các nguyên soái của mình: các ngươi chỉ có một quyền duy nhất là chiến thắng.

Cuối tháng 06/1999, Trương Gia Bình cùng với Henry Hùng làm chuyến khảo sát thị trường Mỹ. Các ông đã đến thung lũng Silicon và gặp gỡ rất nhiều công ty tin học ở đây. Sau đó tại Seatle, hai ông đã có buổi tiếp xúc với phó chủ tịch Microsoft cùng đại diện của nhiều công ty khác.

Sau Seatle, hai ông đến Dallas và gặp gỡ 15 công ty phần mềm lớn nhỏ. Chuyến đi cho ông Bình thấy tiềm năng vô hạn của thị trường Mỹ và trong đầu ông ý tưởng mở văn phòng đại diện tại Mỹ đã chín muồi. Nói về chuyến đi, ông Bình kết luận: vấn đề quan trọng bây giờ là phải nhanh chóng tổ chức lực lượng.

Lúc này lực lượng làm phần mềm của FPT chỉ khoảng 70 người, trong đó số đang làm các hợp đồng nội địa khoảng 40 người. Cần phải tuyển thêm rất nhiều. Nhìn số lượng sinh viên các khoa CNTT tốt nghiệp hàng năm, ông Bình thấy yên tâm. Nhưng thực tế không phải vậy. Theo tiêu chuẩn tối thiểu mà Nguyễn Thành Nam đề ra cho lập trình viên như toefl 500, biết C++, Java, VB, DBMS..., hầu hết các ứng viên không đáp ứng được. Mặc dù họ rất thông minh, biết nhiều, nhưng tình trạng chung là "cái cần thì không biết".

Ông Bình suy nghĩ nhiều ngày về vấn đề này và đi đến kết luận, Việt Nam cần thiết phải có các tổ chức đào tạo chuyên nghiệp quốc tế mới có thể đào tạo các lập trình viên đáp ứng các tiêu chuẩn của ngành công nghiệp phần mềm.
Theo gương Đường Tam Tạng, ông cùng Nguyễn Thành Nam làm một chuyến du hành sang Ấn Độ với mục tiêu tìm lời giải cho bài toán nhân lực. Tại đây ông đã tiếp xúc với các công ty Tata, Aptech, NIIT, Inforsys... Thành công của những công ty này đã khiến ông sửng sốt. Chính những người Ấn tiên phong này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách và tâm hồn ông, họ đã thổi bùng ước mơ lay lắt của ông thành một đám cháy khổng lồ.

Giữa tháng 9 năm 1999, FPT khai trương hai trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế FPT-Aptech. Aptech là công ty đào tạo hàng đầu của Ấn Độ, có hơn một ngàn trung tâm đào tạo trong nước và hơn hai trăm trung tâm đào tạo ở 30 nước khác trên thế giới. Ông Bình đã có thể tạm yên tâm về bài toán nhân lực để tập trung thời gian giải quyết những vấn đề khác.

Cuối năm 1999, ông Bình quyết định mở chi nhánh tại Bangalore. Khúc Trung Kiên được ông Bình phong làm Đại tướng và chiến trường Ấn Độ được gọi là chiến trường B, bí danh của chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Trong chiếu chỉ có đoạn: "Nay quyết định mở mặt trận phía Tây trên đất Ấn, lập đàn phong tướng, phong thiếu tá Khúc Trung Kiên lên chức Đại tướng FPT, tổng chỉ huyphương diện quân Ấn Độ, lập tức lên đường viễn chinh, giành thắng lợi về cho công ty".

Vì mục tiêu của FPT-India đặt ra quá chung chung nên tính thuyết phục không cao. Quyết định thành lập chi nhánh FPT tại Ấn Độ đã gây tranh cãi nhiều ngày trong hàng ngũ cán bộ tham mưu, nhưng ông Bình thấy không cần phải giải thích hay đính chính. Một số người có tính hài hước cho rằng, không có chi nhánh nước ngoài làm sao FPT có thể trở thành công ty quốc tế được!

Sự việc này chứng tỏ tầm nhìn của ông Bình cao hơn hẳn mọi người và đã vượt qua giới hạn thông thường của một giám đốc công ty.

Trên thực tế chi nhánh Ấn Độ không mang lại một lợi nhuận hay triển vọng lợi nhuận nào cả. Nhưng nó có một sứ mạng chính trị to lớn mà chỉ những người có tầm nhìn bao quát mới thấy hết được.

Ông Bình nhận thấy một FPT đơn độc sẽ có rất ít cơ hội thành công. Ông cần sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam. Ông mơ ước viễn cảnh "nhà nhà làm phần mềm" sẽ trở thành hiện thực. Bản thân ông cũng bị bất ngờ khi thăm quan thung lũng phần mềm Bangalore - Ấn Độ. Ông muốn các nhà lãnh đạo Việt Nam được tận mắt chứng kiến những gì đã làm ông sửng sốt ở đây. Việc một công ty Việt Nam có chi nhánh ở thung lũng phần mềm nổi tiếng nhất châu Á là sự kiện có sức thu hút đặc biệt và trên thực tế nó đã lôi kéo được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Sau chuyến công tác của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, các đoàn công tác của Chủ tịch Nước Trần Đức Lương, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã lần lượt đến thung lũng phần mềm Bangalore. "Trăm nghe không bằng mắt thấy", những chuyến đi này đã ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách của Nhà nước đối với định hướng chiến lược xuất khẩu phần mềm một năm sau đó.

Vào những ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới, ông Bình đã quyết định cử Henry Hùng và Hồng Sơn sang mở văn phòng tại thung lũng Silicon. Hai ông này có nhiệm vụ đem cờ Việt Nam và cờ FPT cắm trên đất Mỹ.

Sự kiện này đã làm chấn động dư luận trong cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới. Việt Kiều ở Mỹ tức tối, "chúng nó không cần vượt biên mà cũng sang được đây". Việt Kiều Anh-Pháp thì tò mò, "không hiểu chúng nó sang Mỹ làm gì"? Người Việt trong nước thì khâm phục. Dân FPT đi đâu cũng bị hỏi "chúng mày sang Mỹ làm gì đấy?" và câu trả lời bao giờ cũng là "đầu tư chứ còn làm gì nữa", "tại sao lại phải đầu tư bên đó?", "à, môi trường đầu tư ở đó an toàn hơn ở châu Âu".
Ông Bình đặt rất nhiều kỳ vọng vào Henry Hùng. Theo kế hoạch, trong ba tháng đầu ông Hùng phải đưa văn phòng Silicon vào hoạt động ổn định, sau đó sẽ bàn giao cho ông Sơn và đi mở văn phòng mới. Trong 2 năm, FPT sẽ mở thêm khoảng 15 văn phòng ở Bắc Mỹ. Mỗi văn phòng có trách nhiệm quí các hợp đồng trị giá ít nhất là 400K. Như vậy 15 văn phòng sẽ cung cấp các hợp đồng cho Việt Nam với tổng trị giá khoảng 6 triệu đô la Mỹ vào năm 2001.

Bị thôi miên bởi ý chí của ông Bình, Henry Hùng và Hồng Sơn lên đường sang Mỹ với một nỗi lo canh cánh, không biết mình kiếm được nhiều hợp đồng quá thì ở nhà có chuẩn bị đủ người thực hiện hay không?

Lúc này FPT đã cơ bản triển khai xong về mặt tổ chức cho hướng xuất khẩu phần mềm. Tổng hành dinh của FPT Software (viết tắt là FSOFT) nằm ở Hà Nội. Tại đây có FSU1 do Nguyễn Thành Nam trực tiếp phụ trách, FSU3 do Bùi Quang Ngọc chỉ huy. Trung tâm đào tạo Aptech được giao cho Nguyễn Khắc Thành, thường gọi là nghệ sĩ nhân dân, mặc dù chuyên môn của ông là phó tiến sĩ toán lý. Tại Thành phố HCM, trung tâm phần mềm được đổi tên thành FSOFT HCM, do Lê Trường Tùng và Nguyễn Quốc Hùng phụ trách. Trung tâm đào tạo Aptech do ông Tùng kiêm nhiệm. Công ty có chi nhánh quốc tế tại Bangalore và văn phòng đại diện tại Silicon Valey.

Kết thúc năm 2000, ông Bình nhìn lại những việc đã làm tuy khá nhiều nhưng vẫn còn quá chậm. Ông tâm sự với các cộng sự rằng quỹ thời gian của ông không còn nhiều, nếu không hết sức khẩn trương thì sợ già mất. Hơn nữa cơ hội cũng không đứng yên chờ ai.

Sau một năm quyết tâm làm xuất khẩu phần mềm, chiến công mà FPT thu được mới chỉ là Nà Ngần, Phay Khắt. Không có cứ điểm Điện Biên Phủ, cũng không có Tổng tiến công vào Sài Gòn...

Tại Hội nghị tổng kết năm 2000 Đại Lải, ông Bình quyết định phát động chiến tranh trong toàn công ty. Ông nói, người Việt Nam là thái âm, trong thời bình những biểu hiện của thái âm là sự trì trệ, là bệnh hoạn. Chỉ khi đặt trong hoàn cảnh chiến tranh, nước sôi lửa bỏng, sự trì trệ đó mới mất đi và những ưu điểm của người thái âm mới có cơ hội thể hiện rõ.
Ông Bình cũng trình bày rõ ràng nội dung của cuộc chiến tranh để toàn dân thảo luận. Mục tiêu của cuộc chiến là 528; thời hạn của cuộc chiến là từ 5-7 năm; phạm vi của cuộc chiến là toàn cầu; bản chất của cuộc chiến là chiến tranh nhân dân; tổ chức của quân đội là fractal; hậu phương là các bộ phận đang kiếm ra tiền; tiền tuyến là nơi tiêu tiền; trinh sát là văn phòng đại diện tại Silicon Valey...

Hùng Henry phải cung phụng bọn Mỹ để lấy hợp đồng. Khúc Trung Kiên phải tập ăn cà ri để hòa mình với dân Ấn. Trong nước mỗi người phải làm việc bằng hai. Các tướng lĩnh phải thắt lưng buộc bụng. Gian khổ không chỉ ngày một ngày hai. Nhưng khi thành công thì tất cả đều thành tỉ phú, bét nhất thì cũng triệu phú...

Tinh thần chiến tranh được phát triển sâu rộng đến từng bộ phận, từng chi đoàn. Các kỹ sư phần mềm được phong quân hàm cấp úy. Binh pháp Tôn Tử được mang ra thảo luận. Ông Bình mời cả vị tướng có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân như tướng Hoàng Đan đến nói chuyện.

Nhân viên FPT gặp nhau toàn nói chuyện kỳ chính, chính kỳ, fractal, 528... Để cho dễ nhớ, ông Bình đã gói gọn mục tiêu của công ty vào 3 chữ số 528. Số 5 chỉ 5000 lập trình viên chuyên nghiệp của FPT vào năm 2005. Số 2 chỉ 200 triệu doanh số phần mềm xuất khẩu cũng vào năm đó. Số 8 chỉ giá trị của công ty tại thị trường chứng khoán Nasdaq là 8 tỷ đô la Mỹ.

Toàn thể nhân viên FPT hừng hực khí thế chiến tranh. Trở thành công ty bạc tỷ trong vòng mấy năm là một chuyện phi thường và người FPT đang quyết tâm làm chuyện phi thường.

Những vị lãnh đạo Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến công nghiệp phần mềm, nhưng sự quan tâm đó vào đầu năm 2000 vẫn chưa được thể hiện bằng hành động cụ thể. Chưa có nghị quyết của chính phủ về ngành công nghiệp này. Chưa có chính sách ưu đãi của nhà nước cho các công ty phần mềm. Nhà nước cũng chưa quyết tâm đầu tư. Ông Bình hiểu rằng, cần phải tiếp tục tác động.

Cuối tháng 3 năm 2000 một phái đoàn do công ty FPT phối hợp với Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa và VTV đã tiến hành khảo sát ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ. Mục tiêu của chuyến đi này là học hỏi kinh nghiệm Ấn Độ trong lĩnh vực xuất khẩu phần mềm, để tiến hành tuyên truyền sâu rộng cho việc xây dựng và phát triển phần mềm xuất khẩu Việt Nam.

Ông Bình đã lên đài truyền hình Việt Nam và trước 80 triệu đồng bào cả nước kêu gọi "dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn" cũng phải xây dựng bằng được ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam hướng tới xuất khẩu. Không chỉ tuyên truyền trên truyền hình, ông còn đi đến Đà Nẵng, Cần Thơ giải thích và vận động những nhà lãnh đạo tại các tỉnh này ủng hộ xây dựng các công viên phần mềm địa phương.

Chiến dịch tuyên truyền sâu rộng với sự tham gia của tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đã mang lại kết quả. Ai cũng nói về phần mềm. Chính phủ bàn về phần mềm. Tỉnh, thành phố, quận huyện cũng bàn về phần mềm. Hội thảo về "xuất khẩu phần mềm như một cơ hội thiên niên kỷ" đã diễn ra khắp nơi.

Quả thật là Việt Nam đang nằm trong tốp nghèo nhất thế giới và cơ hội bứt ra khỏi tốp này không phải là nhiều. Khẩu hiệu "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" vẫn tiếp tục chỉ là khẩu hiệu trong nhiều năm qua. Không có nhiều lựa chọn cho Việt Nam. Vì thế, dù cách thức đặt vấn đề có khác nhau, nhưng hầu như các hội thảo trong thời gian này đều đi đến một kết luận giống nhau: công nghiệp phần mềm là lối thoát duy nhất của Việt Nam. Từ vấn đề kinh tế, xuất khẩu phần mềm đã trở thành vấn đề chính trị, vì nó không chỉ mang về cho đất nước một ít ngoại tệ mà là mở ra cho đất nước một cơ hội phát triển.

Ngày 05/06/2000, Chính phủ đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 với mục tiêu: 50 ngàn lập trình viên, 500 triệu đô la Mỹ phần mềm xuất khẩu vào năm 2005. Ngày 17-10-2000, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa 8 đã ra Chỉ thị 58-CT/TW, trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin đối với sự phát triển đất nước.

Tiếp theo hai văn kiện quan trọng này là việc triển khai hàng loạt các chính sách ưu đãi dành cho các công ty phần mềm như: miễn thuế 4 năm cho các công ty phần mềm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, không áp dụng VAT với các sản phẩm phần mềm, thuế xuất nhập khẩu bằng không...

Đặc biệt các lập trình viên Việt Nam được tôn vinh, khi mức lương bắt đầu phải nộp thuế thu nhập nâng từ hai triệu lên tám triệu đồng. Các công ty phần mềm được sử dụng internet với tất cả các cổng dịch vụ không bị kiểm soát qua firewall... Nhà nước đầu tư vào các khu công viên phần mềm như Quang Trung, Hòa Lạc...

Những người làm phần mềm hân hoan thụ hưởng các chính sách mới này, nhưng không phải tất cả trong số họ đều biết đến công lao của ông Bình trong nỗ lực tác động hình thành chính sách.

Những người gần gũi ông nói rằng, trong hoàn cảnh thuận lợi, vai trò của ông rất mờ nhạt, nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, ông luôn tỏa sáng. Tư tưởng Thác nước và Cầu vượt của ông chưa được mọi người chia sẻ, nhưng ông sẽ thuyết phục được họ không sớm thì muộn. Dòng thác ông nói tới là dòng thác công nghệ và đội quân làm phần mềm chính là những cái cầu vượt mà Việt Nam phải cần tới, để không bị mặc kẹt trong tốp các dân tộc đau khổ nhất thế giới.