Ông Phạm Nhật Vượng

Tỷ phú USD - Người nhiều năm dẫn đầu trong top những người giàu nhất thị trường chứng khoán tại Việt Nam.

Ông Đoàn Nguyên Đức

Doanh nhân thành đạt trên nhiều lĩnh vực kinh doanh, ông bầu của Đội bóng Hoàng Anh Gia Lai nổi tiếng, doanh nhân đầu tiên có máy bay riêng.

Ông Nguyễn Bá Thanh

Ông Nguyễn Bá Thanh - nhà chính trị, một tấm gương bộc trực, liêm chính.

Giáo sư Ngô Bảo Châu

Nhà toán học nổi tiếng với công trình chứng minh Bổ đề cơ bản cho các dạng tự đẳng cấu do Robert Langlands và Diana Shelstad phỏng đoán. Ông là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields.

Bài học thành công từ Mark Zuckerberg

29 tuổi - tỷ phú USD - sở hữu một sản phẩm mà hầu hết mọi người sử dụng internet đều biết đến.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận

Một khoa học gia người Mỹ gốc Việt trong lĩnh vực vật lý thiên văn, là một nhà văn đã viết nhiều quyển sách có giá trị cao về vũ trụ học và về những suy nghĩ của ông trong tương quan giữa khoa học và Phật giáo.

Doanh nhân Trần Thị Hường - Bà Tư Hường

Sinh ra ở  Bình Định, bà Tư Hường kể rằng bà lớn lên trong hoàn cảnh gia đình thất bát. Bà nói: "Tôi phải đi ở, rồi đi học may, học nhuộm quần áo, đi bán hàng, từng bước đi lên... Sau khi lấy chồng, tôi làm về công nghiệp được năm năm, rồi sau đó thích làm bất động sản."




Bà cho biết: "Tôi đi lên là nhờ buôn bán bất động sản."

Không trả lời thẳng câu hỏi về chia sẻ kinh nghiệm buôn địa ốc, bà Tư Hường chỉ nói rằng: "Khi bước vô nghề, rất chông gai, phải chịu khó đủ chuyện, không phải dễ dàng."

Từ đầu những năm 90, bà Hường đã nổi tiếng với hai phi vụ thu lời hàng chục triệu USD, số tiền quá lớn vào thời đó. Đó là phi vụ bà đầu tư 15 triệu USD để xây dựng Nhà máy bia Vinagel rồi bán lại cho San Miguel giá 25 triệu USD. Sau đó, bà Tư Hường bỏ ra 5 triệu USD để xây dựng nhà máy nước giải khát rồi tiếp tục bán lại cho Lipovital với giá 17 triệu USD...

Bà Tư Hường từng có thời gian giữ chức vụ Phó Chủ tịch của CTCP Đầu tư Xây dựng và khai thác công trình giao thông 584 (NTB). Giữa NTB và công ty Hoàn Cầu của bà Hường có một số dự án bất động sản cùng đầu tư.

Bà Hường đã từ nhiệm vị trí Phó Chủ tịch NTB vào tháng 11/2010.

Hiện tại, gia đình bà Hường tham gia chủ yếu vào 2 lĩnh vực bất động sản (Công ty Hoàn Cầu) và ngân hàng (Ngân hàng Nam Á).

Công ty Hoàn Cầu: hoạt động chính trong lĩnh vực bất động sản. Website: http://hoancaugroup.com.vn
Hoàn Cầu được biết đến như là một nhà tổ chức sự kiện uy tín với bạn bè quốc tế khi được vinh dự là nhà tổ chức cuộc thi Hoa Hậu Hoàn Vũ Thế giới (Miss Universe) 2008, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
Ngân hàng Nam Á

Gia đình bà Tư Hường hiện nắm quyền chi phối đối với Ngân hàng Nam Á. Các con của bà Hường là ông Nguyễn Quốc Mỹ và bà Nguyễn Thị Xuân Loan đã lần lượt giữ chức chủ tịch của Nam Á. Cá nhân bà chỉ giữ chức vụ cố vấn hội đồng quản trị.

Tính đến cuối năm 2011, gia đình bà Tư Hường trực tiếp nắm giữ gần 20% cổ phần của ngân hàng này.

Họ tên: Trần Thị Hường
Ngày sinh: 20/4/1936 (76 tuổi)
Quê quán: Huyện Hoài Nhơn, Bình Định
Địa chỉ thường trú:203 Cách mạng Tháng tám, P.4, Q.3, Tp.HCM
Lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng, bất động sản

Gia đình:
Chồng: Nguyễn Chấn
Con trai: Nguyễn Quốc Toàn
Con trai: Nguyễn Quốc Mỹ (1971 - 41 tuổi)
Con gái: Nguyễn Thị Xuân Ngọc
Con rể: Huỳnh Thành Chung (chồng Nguyễn Thị Xuân Ngọc)
Con gái: Nguyễn Thị Xuân Loan (1974 - 38 tuổi)
Con rể: Lê Đình Trí (chồng Nguyễn Thị Xuân Loan)
Quá trình công tác: Từ 1993 - nay: Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Hoàn Cầu


Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hiếm hoi với truyền thông, một trong những người giàu nhất Việt Nam khẳng định rằng sản nghiệp được gây dựng hoàn toàn do công sức của bà.

Nổi tiếng như một điển hình đi lên từ bàn tay trắng, bà Tư Hường cũng được đồn đoán là có thế lực chi phối không nhỏ trong cả giới kinh doanh và chính quyền.

Giống như với nhiều tỉ phú khác ở Việt Nam, giới truyền thông có ít cơ hội để chứng thực những đồn đoán như vậy về bà.


Cuộc phỏng vấn của Xuân Hồng trong mùa hè năm nay là một trong những lần hiếm hoi bà Tư Hường, 72 tuổi, đồng ý xuất hiện trên truyền thông.

'Từng bước đi lên'

Sinh ra ở xã Hoài Thanh, tỉnh Bình Định, bà Tư Hường kể rằng bà lớn lên trong hoàn cảnh gia đình thất bát.
Bà nói: "Tôi phải đi ở, rồi đi học may, học nhuộm quần áo, đi bán hàng, từng bước đi lên." "Sau khi lấy chồng, tôi làm về công nghiệp được năm năm, rồi sau đó thích làm bất động sản." Bà cho biết: "Tôi đi lên là nhờ buôn bán bất động sản."

'Tôi đi lên là nhờ buôn bán bất động sản'

Bà Tư Hường không trả lời thẳng câu hỏi về chia sẻ kinh nghiệm buôn địa ốc, bà Tư Hường chỉ nói rằng: 

"Khi bước vô nghề, rất chông gai, phải chịu khó đủ chuyện, không phải dễ dàng." 

'Không lợi dụng ai'

BBC hỏi thẳng bà là sự nghiệp của bà có nhờ vào quen biết với giới quan chức hay không.

Bà Tư Hường trả lời: "Thưa không, tôi gầy dựng sự nghiệp từ bản thân, bước chân tôi đi từng bước, ngoài ra không lợi dụng ai, ông nào. Tự tôi đi, thấy chân không vững thì không đi. Nếu có nhờ là khi tôi thấy việc đó đúng thì yêu cầu nhà nước ký cho tôi, đó là nhờ về giấy tờ thôi."

Bà Tư Hường đầu tư để tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ 2008

Bà ca ngợi luật đầu tư của Việt Nam mà theo bà là "rất thuận lợi cho đầu tư bất động sản, cho cả ngoài nước, trong nước được làm như nhau", nói thêm rằng nhà nước đã "ra chính sách có lợi cho dân, đất nước quá mở cửa".

Phòng khách trong nhà bà được trang hoàng với gam màu vàng là chủ đạo, như bày tỏ mong muốn "toàn bộ dân Việt Nam phải được giàu có. Bao nhiêu năm đi làm bị chèn ép nhiều, nay tôi muốn người dân phải có màu vàng hết".

Bà bảo: "Lúc còn trẻ chưa nghĩ, nhưng nay già rồi, tôi thích làm từ thiện, để dạy con cháu theo con đường ông cha đi trước."

Xuân Hồng hỏi bà nghĩ gì về lời đồn rằng tài sản của bà có thể đủ mua nửa nước Việt Nam.

Nữ doanh nhân 72 tuổi trả lời: "Thưa ông, nước Việt Nam lớn lắm. 10 đứa con tôi làm giám đốc hết, nhưng cộng cả tôi cũng chưa được bằng 1% nước Việt Nam."

Nhìn về tương lai, bà nói sẽ không mở rộng mảng kinh doanh nào nữa mà chỉ tập trung phát triển khu du lịch và mảng địa ốc của bà.  


Bài học thành công từ CEO Facebook Mark Zuckerberg

Tìm hiểu về một chàng trai thành công từ rất sớm Mark Zuckerberg - CEO của một website mà hầu hết mọi người sử dụng internet đều biết đến.

http://3.bp.blogspot.com/-nKFA2qFtTGA/UfIzHVkxDzI/AAAAAAAAALo/989i7PHIrQA/s1600/mark-zuckerberg-tax-bill.jpg

Nếu bạn có sử dụng Facebook thường xuyên để kết nối và cập nhật thông tin của bạn bè thì chắc chắn bạn không thể không biết đến Mark Zuckerberg, người đã làm thay đổi cách liên lạc của cả thế giới và kết nối mọi người gần nhau hơn. Để làm được điều này, Mark đã phải đánh đổi rất nhiều thứ như bỏ học ở Harvard, từ chối những khoản tiền khổng lồ chỉ để theo đuổi ước mơ trong công việc của mình và thành công của anh như ngày hôm nay là hoàn toàn xứng đáng.

Bạn hãy học tập những bí quyết thành công của CEO trẻ nhất thế giới và áp dụng vào sự nghiệp của mình để có những bước thăng tiến mới. Chúc bạn thành công!

1.    Nuôi dưỡng ước mơ
Nhiều người vẫn cho rằng Mark Zuckerberg trở thành triệu phú một cách dễ dàng, họ nghĩ anh tạo nên Facebook chỉ bằng một cú búng tay. Sự thật là, Mark Zuckerberg không phải là hình mẫu thành công trong một sớm một chiều. Hành trình đến với danh vọng và giàu sang của anh khởi đầu từ một ước mơ, một khao khát mà anh sẵn lòng hy sinh tất cả để đạt được.CEO FACEBOOK – MARK ZUCKERBERG, THÀNH CÔNG BẰNG CÁCH NÀO? Đó là lý do Napoleon Hill từng nói: “Khao khát là khởi điểm của mọi thành tựu.”

Vì thế, nếu bạn muốn lặp lại thành công của Mark Zuckerberg; nếu bạn muốn trở nên giàu có và thành công, hãy bắt đầu bằng chính khao khát của bạn. Bạn muốn gì từ cuộc sống này? Bạn muốn mình sẽ ở đâu trong 10 năm tới? Và khi từ giã cõi đời, bạn muốn được nhớ đến nhiều nhất vì điều gì?

2.    Nghĩ lớn
Facebook là một dự án nằm trên máy tính của Mark Zuckerberg và anh hoàn toàn có thể chọn cách bán nó đi, nhưng anh đã từ chối. Anh từ chối bởi cái mà anh tìm kiếm không phải là một khoản tiền; điều anh thật sự quan tâm là Facebook sẽ giúp thế rộng mở hơn, mọi người liên lạc với nhau dễ dàng hơn. Facebook từng là một dự án nhỏ, song giấc mơ của Mark Zuckerberg không hề nhỏ bé.

Bạn thấy gì về công việc hiện tại của mình? Bạn đã làm tốt chưa? Bạn có thể làm tốt hơn nữa không? Bạn phải làm gì để tiến xa hơn và nhanh hơn trên con đường sự nghiệp của mình? Hãy dành thời gian để nhìn lại chặng đường đã qua và lên kế hoạch chuẩn bị cho mục tiêu tiếp theo mà bạn muốn đạt được. Luôn đặt ra cho mình những mục tiêu lớn hơn chính là cách bạn tiến gần đến thành công của chính mình.

http://1.bp.blogspot.com/-8ReOMPzwk2g/UfIzHc5HLEI/AAAAAAAAALs/FIsFPxAY2D0/s1600/mark-zuckerberg.jpg

3.    Tin vào bản thân
Tin tưởng vào bản thân là điều kiện tiên quyết để thành công, và Mark Zuckerberg có thừa sự tự tin. Bạn sẽ không bao giờ tạo dựng thành công trong sự nghiệp bằng cách đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Đừng bao giờ tự đánh giá thấp bản thân; hãy vững tin vào chính mình và những khả năng sẵn có – và bạn sẽ thành công.

4.    Theo đuổi niềm đam mê
Điều gì khiến bạn đam mê? Bạn có sẵn sàng để theo đuổi niềm đam mê ấy? Bạn có sẵn lòng hy sinh cho đam mê của mình? Đây là những câu hỏi bạn cần trả lời nếu muốn lặp lại thành công của Mark Zuckerberg.

Mark Zuckerberg say mê việc lập trình ngay từ thời thơ ấu và không ngừng theo đuổi niềm đam mê của mình, ngay cả khi điều này buộc anh phải mạo hiểm cả cuộc đời mình. Anh đã bỏ dở việc học ở trường đại học chỉ để chắn chắn rằng niềm đam mê của anh không bao giờ tắt. Sự mạo hiểm này đưa anh vào danh sách những triệu phú bỏ học giữa chừng giàu nhất thế giới. Quyết tâm cao độ chính là chìa khóa để tạo dựng nên sự nghiệp lớn từ con số không.

5.    Chấp nhận sự phê bình
Cũng như mọi doanh nhân thành đạt; Mark Zuckerberg luôn phải đối diện với những luồng phê bình chỉ trích. Tuy nhiên, những ý kiến ấy không làm anh nao núng. Sự phê bình là điều cần thiết trên con đường dẫn đến thành công, vì thế, bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để không chỉ chấp nhận mà còn biết cách sử dụng nó như một lực đẩy. Đừng để sự phê bình khiến bạn rơi lại phía sau; thay vì thế, hãy dùng nó như một bước đệm để tiến xa hơn nữa.

http://1.bp.blogspot.com/-6paM-eO3790/UfIzHSI34lI/AAAAAAAAAL0/jnTgVhre96o/s1600/mark-zuckerberg+2.jpg

6.    Đừng sợ thách thức những kẻ khổng lồ
Mark Zuckerberg muốn Facebook trở thành trung tâm của internet, nhưng anh gặp phải một chướng ngại vật, một người khổng lồ không thể lay chuyển với vị thế vững chắc. Đó chính là Google. Mark có e sợ đối mặt với Google không? Câu trả lời là không. Đôi khi, thành công được tìm thấy ngay dưới chân người khổng lồ, nơi nhiều khó khăn và thử thách nhất. Khi đó chỉ có lòng can đảm mới đủ sức đương đầu với sự mạo hiểm và chắc chắn phần thưởng sẽ là xứng đáng. Giờ đây, Facebook từ con số không đã trở thành đối thủ xứng tầm mà gã khổng lồ Google phải luôn dè chừng.

Còn bạn, đừng bao giờ nản lòng khi phải đương đầu với những công việc tưởng chừng như quá sức. Bạn đủ tài năng và can đảm để làm tốt nhất công việc này. Hãy cố gắng hơn chút nữa và thành công sẽ đến!

7.    Tập trung và kiên trì
 “Điều tôi thật sự quan tâm là sứ mệnh của Facebook: khiến thế giới trở nên rộng mở hơn” – Mark Zuckerberg.
Bạn có biết lý do vì sao Facebook có thể đương đầu với Google? Câu trả lời nằm ở việc Mark Zuckerberg đã tập trung hoàn thành sứ mệnh của Facebook. Đó là lý do vì sao những nhân vật thành đạt như Warren Buffett, Bill Gates và Andrew Carnegie luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tập trung. Những nỗ lực phân tán đưa đến kết quả tối thiểu; ngược lại, những nỗ lực tập trung đem lại kết quả tối đa. Vì thế, hãy xác định một mục tiêu rõ ràng cho con đường sự nghiệp và tập trung khả năng và nguồn lực để đạt được mục tiêu đó!

Thành công của Mark Zuckerberg không phải là điều phi thường. Không có gì lạ khi anh trở thành tỉ phú trẻ nhất thế giới. Anh xứng đáng với vị trí hiện tại, bởi anh đã mơ ước, hoạch định và biến ước mơ của mình thành hiện thực. Anh luôn theo đuổi niềm đam mê của mình và toàn tâm toàn ý hoàn thành sứ mệnh Facebook. Trong thành công của Mark Zuckerberg, hoàn toàn không có chỗ cho sự may mắn.

Giáo sư Trần Văn Khê


Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như "Lưu Thuỷ", "Bình Bán vắn", "Kim Tiền", "Long Hổ Hội". Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.

http://4.bp.blogspot.com/-Leve6n9Bi8U/UfIs8g0IxqI/AAAAAAAAAK4/cenhZxtHGe8/s1600/1.jpg

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào "Truyền bá quốc ngữ" trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, "Truyền bá vệ sinh" của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến "đi Hội đền Hùng", và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

http://2.bp.blogspot.com/-6dhlmtqFA88/UfIs8zXesWI/AAAAAAAAAK8/7GMk6aR-6-4/s1600/GS-Khe.jpg

Ra nước ngoài sinh sống từ năm 27 tuổi và đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 55 năm sinh sống tại nước ngoài, Giáo sư Trần Văn Khê quyết định về nước, mang theo 450 kiện hàng chất đầy 1 container, gồm: sách báo, tạp chí, băng đĩa, máy móc, nhạc cụ… mà phần nhiều là những tư liệu quý giá về âm nhạc dân tộc Việt Nam và thế giới.

Tình yêu quê hương

Có một tình yêu rất lớn dành cho âm nhạc dân tộc, đã nhiều lần GS Trần Văn Khê mong muốn về định cư hẳn tại Việt Nam, nhưng ông không thực hiện được chỉ vì một nguyên nhân – ông về nước mà không được mang theo kho tư liệu khổng lồ của mình mà ông đã sưu tầm, lưu giữ suốt mấy chục năm qua. Với ông, đó là cả một gia tài lớn mà ông muốn hiến tặng đất nước, cho những người có chung tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc giống như ông. Mãi đến năm 2004, khi được Sở VH-TT-DL TPHCM đồng ý tiếp nhận số tư liệu này, GS Trần Văn Khê mới chính thức về định cư tại quê nhà và mang theo 450 kiện hàng ra khỏi nước Pháp để lên tàu về Việt Nam và ông cũng đã tự bỏ ra 10.000USD lo chi phí vận chuyển số tư liệu này. 450 kiện hàng ấy đã 4 năm nằm im trong một căn phòng tại Bảo tàng TPHCM, trong quá trình thành phố tìm kiếm nhà cho giáo sư có nơi định cư ổn định. Giờ đây, với căn nhà rộng 200m2 nằm trên một con đường yên tĩnh tại quận Bình Thạnh, GS Trần Văn Khê đã có thể yên lòng khi toàn bộ số tài liệu, tư liệu mà ông công phu mang từ nước ngoài về đã có nơi chốn riêng biệt để bảo quản và được nhân viên Thư viện TPHCM hàng ngày đến phân loại, sắp xếp theo đúng quy chuẩn của một thư viện về sách, báo, tạp chí, tài liệu dành cho việc nghiên cứu, tham khảo.


Đến thăm kho tư liệu, cảm giác thật ngỡ ngàng, xúc động khi được nhìn thấy quá nhiều tài liệu có giá trị và mang đậm tính thời gian. Những cuốn sách về âm nhạc, nhạc cụ dân tộc Việt Nam; những đĩa hát gốc từ những thập kỷ và thế kỷ trước; những băng nhạc cùng vô số máy chụp hình, máy ghi âm và máy nghe nhạc… mà ông đã từng sử dụng trong thời gian 2 năm ông làm báo và thật cảm động khi nhìn thấy gần 100 cuốn sổ tay lớn nhỏ được ông ghi chép trong những lần đi công tác, giảng dạy hoặc được mời tham gia những buổi hòa nhạc, xem phim, thậm chí là những buổi gặp gỡ bạn bè thân tình, những chuyện trao đổi thật riêng tư… Ngoài ra còn có những tấm thiệp nhỏ, hộp diêm bé xíu, mảnh giấy có thủ bút của những người nổi tiếng, như: Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy…

100 cuốn du ký

Nói về kho tư liệu này, GS Trần Văn Khê chia sẻ: “Gần 100 cuốn sổ tay tôi gọi là cuốn du ký và tôi quý lắm. Đi đến đâu tôi đều ghi lại đầy đủ và giữ từ tấm thiệp mời, thư từ của bạn bè, trong đó có cả thực đơn khi đi ăn cùng bạn bè, tôi giữ lại và đưa họ ký vào để làm kỷ niệm. Số sách báo có cái sưu tầm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; có cái tôi mua để xem chơi, nhưng là tài liệu rất tốt cho những ai muốn tìm hiểu về âm nhạc của thế giới. Mỗi cây đàn ở đây đều có “lịch sử” riêng…”. Kho tài liệu của GS Trần Văn Khê được sắp xếp theo ngôn ngữ, bộ môn… và gắn mã số để tiện việc tra cứu, tìm kiếm. Tuy nhiên, vì còn rất nhiều băng từ trong giai đoạn phân định, sang chép sang dạng DVD, CD, nên kho tư liệu này vẫn chưa thể mở rộng cho nhiều đối tượng tham khảo, tiếp cận.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (chi nhánh phía Nam) cũng đã tìm đến GS Trần Văn Khê để thực hiện việc xây dựng phông lưu trữ cá nhân cho ông. Có thời gian theo sát quá trình sắp xếp, phân loại kho tư liệu của GS Trần Văn Khê, bà Võ Thị Xuân Mai, Phó Trưởng phòng Thu thập Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cho biết: “Kho tư liệu của thầy quá phong phú và giá trị, chúng tôi không dám “đụng” tới. Trung tâm chỉ tập trung vào những khen thưởng quốc tế của thầy, quá trình cống hiến, giảng dạy và những kiến thức về âm nhạc dân tộc của thầy đã là một “kho” tư liệu đầy đặn lắm”.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 93, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm: “Muốn sống, muốn mua cái gì cũng được, cũng có. Thi thoảng, vẫn được nơi này nơi kia mời nói chuyện về âm nhạc và được trả thù lao đàng hoàng. 93 tuổi vẫn được như vậy, còn muốn gì nữa”. Tất cả những việc ông làm, đều chỉ với mong muốn làm sao cho thế giới biết và yêu mến âm nhạc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Với cảm nhận của cá nhân người viết, tự bản thân ông, đã cho bạn bè thế giới cảm mến về cốt cách, tài năng của một người Việt Nam đích thực.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận sinh năm 1948 tại Hà Nội. Ông từng theo học trung học tại trường Yersin ở Đà Lạt, rồi trường Jean Jacques Rousseau ở Sài Gòn (nay là trường PTTH Lê Quý Đôn - TP.HCM). Hồi bé, cũng như bao đứa trẻ cùng lứa tuổi tò mò khác, cậu bé Trịnh Xuân Thuận vẫn thường nhìn lên bầu trời, ngắm những vì tinh tú, những ngôi sao đổi ngôi, những biến chuyển không ngừng trên nền trời đêm bao la,... và tự đặt ra cho mình vô vàn câu hỏi.

http://img827.imageshack.us/img827/8136/1i3k.jpg

Sau khi đỗ tú tài trường Jean Jacques Rousseau năm 18 tuổi, Trịnh Xuân Thuận sang Thụy Sĩ du học ngành vật lý. Chỉ sau một năm học ở Thụy Sĩ, nhờ khả năng học tập xuất sắc, chàng sinh viên Việt Nam Trịnh Xuân Thuận giành được học bổng lên thẳng năm thứ hai của ba trường đại học danh tiếng bậc nhất nước Mỹ: MIT ở Boston, Học viện Công nghệ California (California Institute of Technology) và Princeton. Ông quyết định theo học tại Học viện Công nghệ California vì ở đó có những giáo sư giỏi hàng đầu thế giới, có những người đã đoạt giải Nobel.

"Lúc đầu, tôi chỉ biết tiếng Pháp, qua Mỹ không biết tiếng Mỹ, bị cắt hết liên lạc gia đình, đâu có tiền mà về thăm nhà. Xa gia đình, xa đất nước mình, thiếu chỗ nương tựa tinh thần, văn hóa lại khác hẳn nên lúc đầu rất khó khăn", Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nhớ lại những ngày tháng ấy. Ông lần lượt theo học tại Học viện Công nghệ California (California Institute of Technology) từ 1967 đến 1970, và học tại Đại học Princeton từ 1970 đến 1974. Và Trịnh Xuân Thuận đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ tại Đại học Princeton. Từ năm 1976 đến nay, ông là Giáo sư ngành Vật lý thiên văn tại Đại học Virginia. Trong những năm qua, nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận nổi tiếng trong giới nghiên cứu vật lý thiên văn thế giới với nhiều công trình nghiên cứu gây tiếng vang lớn.

Vật lý thiên văn và văn học

Không chỉ nổi tiếng là một trong những nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế giới, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận còn là người đưa vật lý thiên văn, một ngành khoa học cơ bản, trở nên gần gũi với độc giả nhiều quốc gia qua các tác phẩm nổi tiếng do ông viết. Vốn là người thấm nhuần văn hóa Pháp sống và làm việc tại Mỹ, nên tuy Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết những công trình khoa học bằng tiếng Anh, nhưng ông lại viết những tác phẩm về vũ trụ của mình bằng tiếng Pháp. Và ông đã được coi là một nhà nghiên cứu giàu mỹ cảm.

Còn với bạn đọc Việt Nam, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã được độc giả trong nước biết đến qua những tác phẩm nổi tiếng đã được dịch ra tiếng Việt như: Giai điệu bí ẩn, Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, Hỗn độn và hài hòa, Cái vô hạn trong lòng bàn tay (Từ Big Bang đến giác ngộ), Những con đường của ánh sáng, Nguồn gốc… Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã nhiều lần về thăm Việt Nam, tham gia giảng dạy cho sinh viên trong nước tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và tổ chức những buổi nói chuyện về vũ trụ và vật lý thiên văn. Ông là người đã từng được tham gia chính thức trong phái đoàn của nguyên Tổng thống Pháp Mitterrand sang thăm Việt Nam năm 1993.

http://3.bp.blogspot.com/-JyV3mmMlgS8/Ue__X7G6KNI/AAAAAAAAAJ8/fBzW4a0RcOM/s1600/trinh+xuan+thuan+10.05.1.JPG

Đến nay, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã viết hàng trăm bài tiểu luận cùng những tác phẩm về sự hình thành vũ trụ cùng với những thiên hà và sự phát triển của chúng. Các tác phẩm đã trở nên nổi tiếng của ông bao gồm: Giai điệu bí ẩn (1988); Khám phá: Khai sinh vũ trụ; Big Bang và sau đó (1992); Hỗn độn và hài hòa (1998), (2000); Nguồn gốc và nỗi buồn (2003); Lượng tử và hoa sen (2004)... Trong số đó, cuốn Hỗn độn và hài hòa là tác phẩm bán chạy nhất ở nước Pháp năm 2000. Năm 2007, với tác phẩm Những con đường của ánh sáng, Trịnh Xuân Thuận được Viện Hàn lâm Pháp trao Giải thưởng lớn Moron.

Nhận giải thưởng Kalinga năm 2009 của UNESCO

Năm 2009, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận vừa cho ra mắt tác phẩm mới nhất của ông, cuốn Từ điển dành cho những người đam mê bầu trời và các vì sao (Dictionnaire amoureux du ciel et des étoiles). Trong tác phẩm mới này, Trịnh Xuân Thuận còn đề cập đến những hiện tượng lạ trong vũ trụ như nguồn sáng Quasars hay những tín hiệu từ thiên hà Pulsars… Cuốn sách có những mục từ về lịch sử thiên văn học và cả những bài viết mang tính triết học như "khoa học và vẻ đẹp" hay "khoa học và tiện ích".

Theo Giáo sư Trịnh Xuân Thuận, ông tin sự hoàn hảo và hài hòa tuyệt vời của vũ trụ không phải được sinh ra ngẫu nhiên, mà được sáng tạo có chủ ý. Tuy nhiên, "Đấng Sáng Tạo" đó không phải là con người cụ thể, như Chúa hay Phật tổ. Giáo sư cũng tin rằng loài người chúng ta không phải là duy nhất trong vũ trụ và cùng với những tiến bộ của khoa học, rồi đây chúng ta sẽ khám phá ra những hành tinh có thể tồn tại những hình thái sự sống mà chúng ta có thể tiếp cận.

Với sự say mê dành cả cuộc đời để nghiên cứu khoa học thiên văn và đem bầu trời đến với mọi người, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã được UNESCO trao tặng giải thưởng Kalinga về phổ biến khoa học năm 2009. Đây là giải thưởng quốc tế để tôn vinh nỗ lực của những nhà nghiên cứu có nhiều thành công trong công việc phổ biến kiến thức khoa học đến công chúng. Nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận là một trong hai nhà khoa học trên thế giới được tặng giải thưởng Kalinga 2009. Người thứ hai được tặng giải Kalinga năm nay là Giáo sư Yash Pal người Ấn Độ. Giải thưởng này sẽ được trao cho Giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Diễn đàn khoa học thế giới ở Budapest, Hungary vào ngày 5/11/2009.

”Désir d’infini” (Hướng tới vô tận), cuốn sách mới nhất của nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận, vừa ra mắt bạn đọc. Cuộc truy tầm ”cái vô tận” hết sức kỳ lạ, gian truân và đầy bất trắc chủ yếu diễn ra trong nền khoa học phương Tây, nhưng không chỉ ở phương Tây và không chỉ trong địa hạt khoa học, như cuốn sách cho thấy.

Những ai có một tuổi thơ mơ mộng được hướng cái nhìn lên bầu trời cao, hay được chìm vào cái thế giới kỳ diệu của những con số… ắt hẳn đều trải qua cảm giác đứng trước mênh mông vô hạn. Một số người sau đó trở thành nhà khoa học, thành nhà thiên văn nghiên cứu về vũ trụ bao la hay nhà toán học làm việc với thế giới của  hình và số… Tuy nhiên, rất ít người trong số các nhà khoa học tiếp tục để tâm sức theo đuổi cái khát vọng hướng đến vô tận, từng lóe lên thời thơ ấu. Ông Trịnh Xuân Thuận là một trong số những người hiếm hoi như vậy.

Là một nhà vật lý thiên văn học có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về các thiên hà, đặc biệt với việc phát hiện ra I Zwicky 18, một trong các thiên hà trẻ nhất vũ trụ (cùng với nhà khoa học Ukraina Yuri Izotov), Trịnh Xuân Thuận còn có một đam mê riêng, mà ông đeo đuổi từ hàng chục năm nay : viết sách phổ biến khoa học. Năm 2012, toàn bộ các tác phẩm phổ biến khoa học của ông được trao tặng giải thưởng Prix mondial Cino del Duca, giải thưởng quốc tế rất có uy tín dành cho các nhà văn, nhà khoa học viết bằng tiếng Pháp của Viện Pháp – Institut de France. Trước đó, năm 2009, ông cũng nhận được giải thưởng cho các tác phẩm phổ biến khoa học : Giải Kalinga của Unesco.

http://3.bp.blogspot.com/-3IOxrB2uYkA/Ue__YV3ZfVI/AAAAAAAAAKE/VwIyXf5iRN4/s1600/gallimardphoto0.jpg

Nhà vật lý thiên văn đại học Virginia (Hoa Kỳ) đã cho ra đời 12 cuốn sách về thiên văn học viết cho đại chúng bằng tiếng Pháp, được dịch ra nhiều thứ tiếng, mà đa số trong đó đã đến với độc giả Việt Nam quê hương ông, đặc biệt qua các dịch phẩm như : « Giai điệu bí ẩn. Và con người đã tạo ra vũ trụ » in lần đầu 2001 (nguyên bản 1988), « Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận » (Un astrophysicien : entretiens avec Jacques Vauthier) 2001 (1992), « Hỗn độn và hài hòa » 2003 (1998), « Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Từ Big Bang đến Giác ngộ » 2005 (2000) (Trò chuyện của Trịnh Xuân Thuận với nhà sư Matthieu Ricard), « Nguồn gốc – nỗi hoài niệm về những thuở ban đầu » 2006 (2003), « Những con đường của ánh sáng » 2008 (2007)…

« Désir d’infini. Des chiffres, des univers et des hommes » (tạm dịch là « Hướng tới vô tận » theo như tác giả, hay cũng có thể là « Khát khao vô tận » để chuyển dịch được rõ hơn từ « désir» [ham muốn] trong tiếng Pháp) là cuốn sách mới nhất của Trịnh Xuân Thuận, do nhà xuất bản Fayard ấn hành, vừa ra mắt bạn đọc. Trong cuốn sách này, nhà thiên văn học đưa công chúng đến với các tri thức về khoa học vũ trụ hình thành nên qua nhiều thế kỷ tìm kiếm, cũng như các phát hiện mới đây, xoay quanh một chủ đề trung tâm : sự truy tầm « cái vô tận ». Cuộc truy tầm hết sức kỳ lạ, gian truân và đầy bất trắc chủ yếu diễn ra trong nền khoa học phương Tây, nhưng không chỉ ở phương Tây và không chỉ trong địa hạt khoa học, như cuốn sách cho thấy.

Trong số các nghiên cứu mới, « Hướng tới vô tận » dành nhiều trang cho việc mô tả và tranh luận với các lý thuyết đa vũ trụ (multivers), mới nổi lên từ vài thập niên gần đây. « Đa vũ trụ » là giả thuyết nghiên cứu được một số nhà khoa học kỳ vọng sẽ mang lại những thay đổi cách mạng cho ngành vũ trụ học sau nhiều thập kỷ nữa, tương tự cuộc cách mạng Copernic trước kia.

Bên cạnh đó, nhà khoa học đã dành phần cuối tác phẩm để giải bày với công chúng những câu hỏi đầy ưu tư của ông về các vấn đề tối hậu của thế giới tự nhiên như : nguồn gốc và tương lai của vũ trụ hay các vấn đề đạo đức – đạo lý trong một thế giới nhân sinh, mà ở đó cái vô tận hay cái bất định có xu hướng trở thành một ám ảnh thường trực. Có độc giả cho rằng, để hiểu được «Hướng tới vô tận » cần đọc các tác phẩm trước đó của Trịnh Xuân Thuận, bởi cuốn sách mới này của nhà vật lý thiên văn đề cập đến rất nhiều vấn đề, từ nhiều góc nhìn khác nhau.

« Désir d’infini » của Trịnh Xuân Thuận nhắc chúng ta nhớ đến tác phẩm ra đời  hơn nửa thế kỷ trước của nhà triết học và sử học khoa học người Pháp gốc Nga Alexandre Koyré « From The Closed World To The Infinite Universe/Từ thế giới đóng cho đến vũ trụ vô tận » (1957) (được dịch sang tiếng Pháp với tên gọi « Du monde clos à l’univers infini » [1962]), phục dựng lại những diễn biến lớn của cuộc cách mạng khoa học ở Châu Âu thế kỷ XVII-XVIII, với những mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa khoa học, triết học và thần học.

Một trong những điểm độc đáo trong « Hướng tới vô tận », cũng như nhiều tác phẩm của Trịnh Xuân Thuận, là khát khao tìm kiếm các đối thoại giữa khoa học vật lý thiên văn với các truyền thống triết học tâm linh, đặc biệt là triết học Phật giáo, giữa thế giới khoa học dựa trên những gì quan sát và kiểm chứng được với thế giới của trực giác, trải nghiệm, niềm tin hay các ý niệm thuộc lĩnh vực siêu hình.

Trịnh Xuân Thuận thường xuyên nhấn mạnh đến sự độc lập của ông với tư cách một nhà nghiên cứu và ông không để cho bất cứ một tiên nghiệm triết học (a priori philosophique) nào ảnh hưởng trực tiếp đến công việc này, cho dù, đời sống tâm linh là không thể thiếu được với ông, giúp ông sống tốt hơn, quan hệ tốt hơn với xung quanh (« Le cosmos et le lotus », tr. 258). Khẳng định mình là người theo Phật, Trịnh Xuân Thuận cũng không ngừng đối thoại hay tranh luận với những nguyên lý hay tín điều của truyền thống triết học tâm linh này và dường như sẵn sàng để sang một bên tín lý nào không thỏa mãn các đòi hỏi của tư duy.

Tiếp cận về mối quan hệ giữa khoa học và triết học – tâm linh, mà Trịnh Xuân Thuận vén lên, rất được chú ý. Năm 2009, nhà xuất bản Albin Michel ra cuốn « Le Monde s’est-il crée tout seul ?/Thế giới liệu có thể tự mình hình thành hay không ? », đưa ra sáu tiếp cận khác nhau về lĩnh vực nằm ở ranh giới giữa khoa học và triết học này. Trịnh Xuân Thuận là một trong sáu người trả lời phỏng vấn nhà báo Patrice van Eersel, cùng với các nhà khoa học như giải Nobel hóa học người Bỉ gốc Nga Ilya Prigogine, hay nhà triết học – vật lý sinh học Pháp Henri Atlan, chuyên gia về các hệ thống tự tổ chức…

Từ thế giới các thiên hà xa xôi, cái nhìn của nhà thiên văn hướng về Trái đất. Một trong những điều khiến lương tri ông nổi sóng là thái độ vô trách nhiệm của các tác giả những phát minh tân kỳ, được sử dụng vào các mục tiêu gây thảm họa cho con người, tàn phá hành tinh Xanh. Ông viết : « […] một trong những nghĩa vụ thiêng liêng của nhà khoa học là phổ biến các phát hiện của mình, thông tin đến công chúng tri thức của mình, và báo động với công chúng về những nguy cơ của các ứng dụng nguy hiểm » (« Le cosmos et le lotus », tr. 250). Trong phần cuối «Hướng tới vô tận », Trịnh Xuân Thuận quan tâm đến một vấn đề mới : « sociologie de l’immortalité » (xã hội học về sự bất tử), hay nói cách khác những ưu tư của ông trước tham vọng của con người hiện đại muốn trẻ mãi không già. Độc giả có cảm nhận một đối thoại của ông với các nhà nghiên cứu về xã hội và về con người trong xã hội sẽ mở ra những chân trời mới.      

Giáo sư Ngô Bảo Châu

 GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội, là con duy nhất của GS TSKH Ngô Huy Cẩn, chuyên gia hàng đầu về cơ học và PGS TS Trần Lưu Vân Hiền. Anh từng học tại trường thực nghiệm Giảng Võ, trước khi vào khối chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội).

http://3.bp.blogspot.com/-j8p4Tbkhx0I/Ue_4ogAbjKI/AAAAAAAAAJs/WIHlNAFSfFU/s1600/Ngo+Bao+Chau.jpg

Năm 1988, Bảo Châu tham dự kỳ thi Olympic Toán quốc tế tại Australia và giành huy chương Vàng. Năm sau, anh tiếp tục giành huy chương vàng Olympic Toán quốc tế tại Đức. Cũng trong năm 1989, anh sang Pháp học tại ĐH Paris 6 và bảo vệ luận án tiến sĩ khi mới 25 tuổi tại ĐH Sư phạm Paris - ngôi trường danh tiếng bậc nhất nước Pháp. Năm 2003, ở tuổi 31, anh hoàn thành luận án habilitation (tương đương tiến sĩ khoa học) tại ĐH Paris 11 và đầu năm sau trở thành giáo sư của đại học này.

Năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm giáo sư và trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất Việt Nam. Năm 2007, sau khi chứng minh được “Bổ đề cơ bản”, một giả thuyết then chốt của Chương trình Langlands, anh được trao Giải thưởng Oberwolfach của Đức, Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.

Từ năm 2007 đến nay, GS Ngô Bảo Châu trở thành giáo sư đặc biệt tại Viện Toán học Việt Nam và tháng 9 tới, GS Ngô Bảo Châu sẽ bắt đầu làm việc tại khoa Toán ĐH Chicago (Mỹ).

Đầu tháng 8, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã mời Ngô Bảo Châu về Việt Nam công tác và đóng góp cho chương trình nhằm đưa nước ta trở thành cường quốc về Toán. Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020, với tâm điểm là xây dựng Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán.

Ngày 19/8/2010 tại lễ khai mạc Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ, bà Pratibha Patil - Tổng thống Ấn Độ đã trao huy chương Fields - giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực toán học cho GS Ngô Bảo Châu.

Đây là niềm tự hào của người Việt Nam nói chung, của thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng, khi trí tuệ Việt vươn lên đỉnh cao của khoa học nhân loại và được khẳng định trên trường quốc tế.

Bà Pratibha Patil - Tổng thống Ấn Độ trao huy chương Fields - giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới cho GS Ngô Bảo Châu.
Khi Đại hội Toán học thế  giới vừa xướng tên GS Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields, những người có mặt như vỡ òa ra trong niềm vui khôn tả, tự hào vì người Việt Nam đã chinh phục được đỉnh cao của nền khoa học nhân loại.

GS. Ngô Bảo Châu (thứ hai, bên trái) cùng các nhà Toán học quốc tế tại lễ khai mạc Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ ngày 19/8/2010.
GS Lê Tuấn Hoa, Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam khẳng định: “Giải thưởng Fields mà GS Ngô Bảo Châu đạt được không chỉ có ý nghĩa ở Việt Nam mà còn có ý nghĩa lớn trong khu vực và thế giới. Việt Nam là một đất nước nghèo, không có truyền thống về khoa học, về Toán lại được giải thưởng Fields. Nó đã chứng minh, nếu có cách làm đúng thì những người từ vùng lạc hậu như đất nước chúng ta cũng có thể đạt được đỉnh cao trong khoa học. Đó là ý nghĩa sâu sắc đối với quốc tế”.

GS. Ngô Bảo Châu trở thành người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng danh giá Fields. (Ảnh: Bùi Tuấn)
Đằng sau sự thành công trong khoa học của GS Ngô Bảo Châu là sự đóng góp lớn lao, âm thầm của mẹ anh PGS.TS Trần Lưu Vân Hiền. Bà đã từng tâm sự với báo chí rằng: "Bổ đề cơ bản" là người bạn thân thiết của Châu suốt 15 năm qua, nhưng khi Châu chứng minh được bổ đề này thì nó lại là của mọi người, không còn là của riêng Châu nữa. Cô cũng vậy, mừng cho con nhưng thấy lòng một chút hụt hẫng, trống trải, Châu được nhiều người biết đến thì cảm giác không thuộc về riêng mình nữa".

Giải thưởng Fields được như Giải thưởng Nobel trong Toán học, bởi vì theo di chúc từ năm 1901 của người sáng lập Thụy Điển A. Nobel, Giải thưởng Nobel không dành cho Toán học. Thế nhưng Giải thưởng Fields lại chỉ được trao cho những thiên tài toán học phát lộ sớm, vì điều kiện tiên quyết của nó là chỉ trao cho những người không quá 40 tuổi vào năm trao giải.
Cứ bốn năm một lần, Giải thưởng Fields được trao tại các kì Đại hội Toán học thế giới và mỗi lần có không quá  4 người được nhận. Như vậy, tính bình quân, mỗi năm có tối đa một người được nhận Giải thưởng Fields.
Trong 70 năm qua, 1936 - 2006, cả thế giới có tất cả 48 nhà toán học được trao Giải thưởng Fields. Mới chỉ có 11 nước vinh dự có  công dân của mình đạt Giải thưởng Fields. Đó là: Mỹ, Pháp, Nga, Anh, Nhật, Phần Lan, Italia, Thụy Điển, Đức, New Zealand và Úc, trong đó chỉ có 3 người có quốc tịch châu Á, đều là người Nhật và có hai người gốc Hong Kong - Trung Quốc là  Shing-Tung Yau (quốc tịch Mỹ ) và Terence Tao (quốc tịch Úc) đã được trao Giải thưởng Fields.

Ông Nguyễn Bá Thanh

Từ một anh chủ nhiệm hợp tác xã, ông Nguyễn Bá thanh đã để lại những dấu ấn đặc biệt từ khi nhậm chức Bí thư thành ủy Đà Nẵng và sau đó là Trưởng ban Nội chính Trung ương.

http://4.bp.blogspot.com/-VRewbvwfH_s/Ue_0XPuFfXI/AAAAAAAAAJc/5vf5VYAISeo/s1600/Ba+Thanh.jpg

Từ ông chủ nhiệm hợp tác xã...

Xuất phát điểm con đường sự nghiệp của ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng - Nguyễn Bá Thanh là từ một anh chủ nhiệm hợp tác xã.

Sinh ngày 8/4/1953 ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Việt Nam.
Ông Nguyễn Bá Thanh thăm Bệnh viện Sản - Nhi Đà Nẵng. Ảnh: Internet 

Con đường công danh sự nghiệp của ông Thanh tiến dần từng bậc, trải qua nhiều vị trí công tác. Sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội, ông Thanh công tác tại Hợp tác xã Hòa Nhơn và giữa chức Chủ nhiệm.

Sau đó, ông trải qua các vị trí Phó Bí thư Huyện ủy Hòa Vang, Giám đốc Nông trường Chè Quyết Thắng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1996, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng. Năm 2003, ông Nguyễn Bá Thanh bắt đầu giữ chức vụ Bí thư thành Ủy Đà Nẵng.

Trên cương vị Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh chủ trương thực hiện một số chính sách, xây dựng Đà Nẵng thành thành phố “5 không”, là trung tâm khu vực miền Trung về các mặt - một “thành phố đáng sống”.

... Đến những việc làm khác người

Từ khi giữ chức Bí thư thành ủy kiêm Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, đặc biệt vào hai năm nay trở lại đây, ông Nguyễn Bá Thanh là nhân vật thu hút sự quan tâm của dư luận. Với những phát ngôn thẳng thắn, quyết liệt, những hành động mang tính dấu ấn mà những người tiền nhiệm chưa có điều kiện để làm, ông được dư luận coi như một “hiện tượng”.

Việc làm được coi là “phát súng” đầu tiên của kế hoạch lập lại kỷ cương của ông Nguyễn Bá Thanh là kỷ luật cảnh cáo Giám đốc sở Xây dựng và cách chức Trưởng Ban quản lý các dự án xây dựng và công nghiệp dân dụng Đà Nẵng.

Tuyên bố này được ông công bố trong bài phát phát biểu cuối cùng ở cương vị Chủ tịch UBND thành phố trước khi chuyển hẳn sang đảm nhận chức vụ Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng, chiều 23/7/2003. Đây cũng là lần đầu tiên một quyết định như vậy được công bố công khai tại kỳ họp HĐND thành phố. Ông tuyên bố, đây là cách để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong đội ngũ cán bộ.

Từ đó đến nay, những phát ngôn đi đôi với việc làm “gây sốc” tương tự của ông Thanh vẫn được “giữ lửa”.

Tại một buổi nói chuyện với hơn 4.500 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của Đà Nẵng vào sáng 24/2, ông Nguyễn Bá Thanh từng chỉ rõ: “Do không ai để ý nên ở Văn phòng UBND thành phố đã xuất hiện mấy “ông trời con” chuyên liên lạc với các dự án, làm rối tung lên” và yêu cầu chủ tịch UBND TP xử lý.

Tiếp đó, trước việc người dân liên tục phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại KCN Thủy sản Âu Thuyền (quận Sơn Trà) nhưng không được giải quyết, ông Nguyễn Bá Thanh yêu cầu giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường đến ngủ tại nơi người dân nêu để thấu hiểu nỗi khổ của họ.

Yêu cầu này được ông Thanh phát biểu thẳng thắn trong buổi chất vấn Giám đốc Sở TN-MT Nguyễn Điểu tại kỳ họp thứ 4 HĐND TP Đà Nẵng đầu tháng 7 vừa qua. Kết quả, sau gần một tháng, tình trạng ô nhiễm môi trường ở KCN Thủy sản Âu Thuyền đã được giải quyết.


Chuyện chưa kể về Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh
Ông Nguyễn Bá Thanh xuống từng người dân để ghi nhận phản ánh. Ảnh: Internet 

Gần đây nhất, vào cuối tháng 10, khi những bức xúc của người dân về dự án “Mở rộng khu gia đình cán bộ công chức Lữ đoàn 532” lọt đến tai, ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng đã đích thân vi hành. Sau khi phát hiện, dự án được cấp phép trái quy định cùng nhiều sai trái của cơ quan công quyền địa phương, ông lập tức ra quyết định đình chỉ dự án và yêu cầu truy đến cùng trách nhiệm của những cơ quan, cá nhân liên quan.

Không chỉ nghe ngóng dư luận, ông Thanh còn xuống gặp từng người dân để ghi nhận những bức xúc của họ rồi yêu cầu lãnh đạo địa phương xử lý dưới sự giám sát chặt chẽ của ông.

Tại buổi đối thoại đầu tiên với người dân làng phong Hòa Vân khi vừa được chuyển vào nơi ở mới trên đất liền (sáng 5/9), ông Nguyễn Bá khẳng định: “Tôi nói là làm, không có chuyện chạy làng”.

Những phát ngôn "bạo miệng"... để đời

Bên cạnh những việc làm cụ thể, ông Thanh “nổi tiếng” với những phát ngôn “bạo miệng”, để đời. Câu nói gây “sốc” mới nhất của ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng được thốt ra tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 5 HĐND TP Đà Nẵng khoá VIII (chiều 6/12).

Sau vài tiếng ông Giám đốc Sở TN-MT Nguyễn Điểu hớn hở thông báo kết quả Đà Nẵng được công nhận nằm trong ‘top” 20 thành phố "sạch nhất thế giới", ông Thanh thẳng thắn bày tỏ sự “ngạc nhiên”, nghi ngờ về thứ hạng này.

Ông Thanh nói: “Nghe thế giới họ khen mình là một trong 20 thành phố thế này, thế kia về môi trường, tôi không biết mấy thành phố khác còn bẩn đến cỡ nào nữa? Mình đi các nơi, thấy nhiều thành phố hấp dẫn rứa mà răng tự nhiên mình cũng nằm vô một trong 20 thành phố. Không biết mấy ổng chấm kiểu chi mà tui thấy chưa sướng lắm!".

"Chắc mấy ổng không đi vào cái chỗ mà hôm trước tôi với anh Huy (ông Trần Văn Huy, Bí thư quận uỷ kiêm Chủ tịch UBND quận Thanh Khê) lội vô ở gần ven sân bay. Mấy ổng tới đó chắc không chấm điểm Đà Nẵng đâu. Úi chu cha, đô thị chi rứa mà là đô thị? Ăn ở mất vệ sinh, rác rưới vất tùm lum ra như thế!", ông Thanh nói thêm.

"Dù muốn hay không thì họ cũng công bố rồi. Mình lỡ "bị" công bố nên phải làm cho tốt hơn, chứ làm không đạt là mang tiếng", ông Nguyễn Bá Thanh tuyên bố.

Cũng trong phiên phiên bế mạc kỳ họp thứ 5 HĐND thành phố Đà Nẵng khoá VIII, khi tổng kết những vấn đề liên quan đến nạn cướp giật, đòi nợ thuê, ma túy, ông Thanh khẳng định “Chính quyền phải có trách nhiệm bảo vệ cuộc sống của người dân. Một bộ máy hùng hậu mà không bảo vệ được cuộc sống người dân là quá kém, không thể chấp nhận được”.

Tại phiên thảo luận ngày 5/12, khi nhắc đến vụ bọn cướp chặt tay một cô gái trẻ ở TP.HCM, cướp xe máy ngay giữa ban ngày, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh nói: "Cái gan của tôi là quất cái án chung thân, kiếm hòn đảo cho ra vĩnh viễn ngoài đó, đừng lưu luyến gì hết!".

Tổng kết những ý kiến liên quan đến phản ánh cảnh sát giao thông “ăn tiền” của người dân, ông Thanh yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp cảnh sát có hành vi này. “Bắt quả tang cảnh sát giao thông nhận tiền là tước quân tịch, đuổi về nhà chớ không khiển trách chi hết!”, ông Thanh nói.

Trước đó, Bí thư thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh cũng đã “sở hữu” hàng chục phát ngôn “chính chủ” ấn tượng: “Có những khoản nợ không phải xấu mà là quá xấu”, “Làm thì phải có lửa! Ai mệt quá thì giơ tay xin nghỉ”, “Cán bộ không nên giống con cá heo biểu diễn chờ cho ăn mới chịu diễn còn không cho ăn thì thôi.

Cán bộ như thế là không được!”, “Đà Nẵng không có chuyện chạy chọt mà chỉ cần phấn đấu”, “Cái được lớn nhất của Đà Nẵng trong thời gian qua là được lòng dân”, "Phải biến Đà Nẵng thành đô thị đáng sống chứ không phải là thành phố chán sống trong tương lai”.

Có thể nói rằng, với những phát ngôn thẳng thắn và những hành động đi đôi với lời nói của ông Nguyễn Bá Thanh, người dân Đà Nẵng nói riêng, cả nước nói chung kỳ vọng nhìn thấy một Đà Nẵng hoàn toàn đổi mới trong thời gian tới.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, ngày 28/12/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 158-QĐ/TW về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương; Quyết định số 159-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Nội chính Trung ương.

Cùng ngày, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Quyết định số 160-QĐ/TW về việc thành lập Ban Kinh tế Trung ương; Quyết định số 161-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Kinh tế Trung ương.

Bộ Chính trị cũng ban hành các Quyết định số 655-QĐNS/TW về việc phân công ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương.

Đồng thời, Quyết định số 656-QĐNS/TW của Bộ Chính trị phân công ông Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Kinh tế Trung ương.

Theo Kiến thức

Tiểu thuyết ảnh về Mark Zuckerberg và Steve Jobs

Hai trong số những nhân vật đình đám được thế giới ngưỡng mộ đã có mặt trong một thể loại mới - Tiểu thuyết hình ảnh (Graphic Novel), đó là Steve Jobs và Mark Zuckerberg.  

http://4.bp.blogspot.com/-7BFJ1hoFEZk/UfI2qXjnL9I/AAAAAAAAAMI/IRt_qucq2H8/s1600/photo.jpg

Cuốn sách kể cuộc đời phù thủy công nghệ Steve Jobs và chàng tỉ phú trẻ tuổi Mark Zuckerberg, cha đẻ của mạng xã hội Facebook đang vươn lên trở thành đế chế đầy quyền lực.

Steve Jobs – Nhà đồng sáng lập Apple

“Khi thế giới vinh danh những con người nổi tiếng, có một cái tên gắn liền làm một với hãng máy tính Apple với sự cách tân: Steve Jobs. Tên ông được biết tới trong mọi gia đình, mọi quốc gia và hầu hết chúng ta đều có trong tay một sản phẩm của Apple. Chúng ta đã biết những gì con người ấy ngoài cái tên đã trở nên quá đỗi quen thuộc?” – Cuốn sách đã bắt đầu bằng một câu hỏi như thế!

 
Cuộc đời của Steve Jobs, phù thủy công nghệ, CEO thiên tài, nhà đồng sáng lập Apple chứa đựng những bí ẩn khác biệt và sức hút khó cưỡng. 





 
Giây phút ông rời bỏ thế giới, người ta hiểu rằng mọi dấu ấn ông để lại sẽ không bao giờ có thể xóa mờ.

 
Lật giở cuốn truyện tranh màu về Steve Jobs và hình dung về cuộc đời ông, chúng ta sẽ hiểu, vì sao Steve Jobs mãi mãi là một huyền thoại công nghệ được cả thế giới ngưỡng mộ.


Mark Zuckerberg – Cha đẻ Facebook

Facebook, mạng xã hội đang làm mưa làm gió khắp thế giới, kênh kết nối cực kỳ hữu ích cho các teen chúng mình. Song, ít ai biết, sự ra đời của Facebook thoạt đầu chỉ đơn giản là một ý tưởng “cho vui” của cậu sinh viên đại học Mark Zuckerberg. 

 

Mark Zuckerberg, tỉ phú trẻ nhất thế giới, cha đẻ của đế chế quyền lực Facebook, đã bắt đầu và trải qua chặng đường sáng tạo như thế nào? Thành công và vinh quang của Mark bắt đầu từ đâu?



 

Cuốn sách còn khơi gợi nhiều hình dung rất thú vị về cuộc sống của những sinh viên Mỹ, những chàng trai Harvard tham vọng, giỏi giang và cũng có một tuổi trẻ bồng bột như bất kì ai.

 
Cùng khám phá thể loại sách mới lạ này để tìm hiểu hành trình Facebook vượt ra khỏi những bức tường trường đại học và thay đổi thế giới như thế nào bạn nhé!

Theo Kenh14

Ông Trương Gia Bình

Vào cuối năm 1998, khi FPT tròn 10 tuổi thì Trương Gia Bình đã là một người nổi tiếng không chỉ ở Ấn Độ mà cả ở Mỹ. Còn ở Việt Nam quê hương ông, nơi mà một viên tướng nhỏ của FPT cũng dám mơ làm thủ tướng thì sự nổi tiếng của ông quả là không có giới hạn. Là một người thông minh, ông biết cơ hội của mình đã đến và là một người giàu tham vọng, ông không có ý định để cơ hội cứ thế trôi qua. Vào thời điểm năm 1998, ông và các cộng sự của mình đã dựng nên một công ty tin học có tiếng tăm lẫy lừng, bề thế hơn cả công ty Microsoft lúc mới ra đời. Lễ kỷ niệm 10 năm và lễ đón nhận Huân chương lao động hạng hai của công ty FPT là một sự kiện gây nhiều dư luận đến mức hàng tháng sau dân Hà Nội vẫn còn bàn tán.
http://4.bp.blogspot.com/-VuibwxePjAY/Ue9q8S3b2FI/AAAAAAAAAI4/yTv2GSIMxBA/s1600/truong-gia-binh.jpg

Thông thường sau những thành công như thế thì người ta bắt đầu hưởng thụ. Nhưng Trương Gia Bình không phải là người thường. Ông chưa có ý định hưởng thụ và ông đã thuyết phục được hầu hết các cộng sự của mình có chung ý chí đó.

Trị quốc

Trong những ngày này, câu hỏi duy nhất trăn trở trong đầu ông Bình là: làm thế nào để chuyển hướng FPT đang rất thành công ở các lĩnh vực khác sang xuất khẩu phần mềm?

Là con rể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng lỗi lạc nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20, ông Bình chịu ảnh hưởng nhiều phong cách lãnh đạo "lấy dân làm gốc" của vị tướng này. Ông không muốn quyết định một cách độc đoán, quân chủ. Ông thực tâm muốn thi hành dân chủ. Sẽ có những người vô trách nhiệm, phát biểu lung tung. Nhưng ông không sợ. Ông tin vào đa số sẽ ủng hộ ông. Nhân viên nào chống quá, cùng lắm ông cho nghỉ không ăn lương.

Một chiến dịch học tập và quán triệt tinh thần xuất khẩu phần mềm đã diễn ra, kết thúc bằng hội nghị tổng kết rầm rộ tại Đồ Sơn có tên là "Hội nghị Diên hồng" - trùng tên với một hội nghị nổi tiếng trong lịch sử của các vua Trần lấy ý kiến toàn dân nên hòa hay nên đánh giặc Thát vào thế kỷ 13.

Nhưng diễn biến của Hội nghị Diên hồng tại Đồ Sơn lại không hoàn toàn như dự kiến của ông. Tham luận đầu tiên gây sự hưng phấn rất cao là của Đỗ Cao Bảo với tiêu đề "Xây dựng một hình ảnh FPT mới". Là một tướng lắm tài, nhiều chiến công nên ông Bảo nói gì người ta cũng nghe. Ông Bảo cho rằng, FPT hôm nay không còn là công ty số một quốc gia mà là con chim đầu đàn, nên mỗi hành động của FPT sẽ được các công ty khác bắt chước, sao chép lại. Điều này vô cùng nguy hiểm vì khả năng sáng tạo của FPT không phải là vô hạn. Để khắc phục nhược điểm này, ông Bảo đề nghị là phải có một số hư chiêu. Xuất khẩu phần mềm nếu thành công thì tốt, ngược lại nếu thấy khó khăn quá thì ta vẫn thổi lên biến thành hư chiêu, dụ CMC lao vào cho bõ ghét.

Một công thần bảo thủ khác là ông Bùi Quang Ngọc cho rằng tin học trong nước vẫn là quả đấm thép. Phụ trách FPT phía Nam, ông Hoàng Minh Châu thì cho rằng phương hướng sắp tới của chi nhánh là xây trụ sở mới cho tương xứng với hình ảnh của một công ty đầu đàn.

Báo cáo của ông Phan Ngô Tống Hưng về vai trò của Phi tin trong hệ thống FPT "FPT phải đi bằng hai chân" lại càng làm cho "tiêu điểm xuất khẩu phần mềm" bị mờ hơn. Ông Lê Quang Tiến cũng ủng hộ ông Hưng, cho rằng, bây giờ khó khăn thì Phi tin mới là cứu cánh vì không phải bỏ vốn, không phải đầu tư...

Cho đến khi báo cáo đinh của Hội nghị "Chết hay là Xuất" do ông Nguyễn Thành Nam trình bày thì hầu hết mọi người đã bội thực về các định hướng chiến lược khác nhau. Mặc dù có tài biến báo, ông Nam cũng không thuyết phục được ai nhổ lúa để trồng cà phê xuất khẩu, kể cả việc ông đã hù dọa mọi người năm tới mất mùa lúa, c... cũng không có mà ăn.
Ông Bình rất buồn vì một ngày trôi qua mà chẳng thêm được tướng lĩnh nào chia sẻ quyết tâm "xuất khẩu phần mềm" của ông. Trong bữa nhậu tối, như thường lệ, ông Tiến lại cống hiến cho cử tọa các chuyện cổ kim đông tây, chuyện nào cũng buồn cười.

Khi ông Tiến kể đến đoạn "Lưu Bị than thở gần năm mươi tuổi đầu mà vẫn phải đi ở nhờ đất của Lưu Chương" thì ông Bình bỗng ôm mặt khóc hu hu, ai can cũng không được. Ông vừa khóc vừa nghẹn ngào nghe thật thương tâm: "Ta nay ngoài bốn chục tuổi đầu cũng chỉ biết mua rẻ bán đắt, một phần mềm cỏn con như Microsoft Office cũng không tự làm ra được, phải cúi mặt sài chùa. Nghĩ lại xấu hổ quá, thật không bằng cả cái tên Lưu Bị, Lưu Bịch ngày xưa, các ngươi bảo ta không đau lòng sao được!".

Chính cảm xúc chân thật trong lúc có hơi men của ông đã thuyết phục được mọi người và ngày hôm sau cả hội nghị đã nhất trí chào nhau bằng câu "xuất hay là chết". Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn có thể coi là hòn đá đầu tiên của công cuộc kiến tạo ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam mà ông Bình là người chủ xướng quan trọng nhất.

Những người không có cơ hội gần gũi ông Bình sẽ không bao giờ hiểu được ông là người có nghị lực và quyết tâm lớn lao nhường nào. Ông hiểu thành công của Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn chỉ là khởi đầu. Sự ủng hộ của các tướng lĩnh mới chỉ ở lời nói chứ chưa phải bằng việc làm. Mà ai cũng đang bận làm một việc gì đó, nên ông sẽ là người duy nhất trong lúc này phải lo giải quyết từng việc một. Ông Bình thuộc típ người, càng khó khăn, tiềm năng trong ông càng trỗi dậy.
Việc đầu tiên là ông nói chuyện với Lê Quang Tiến, Phó Tổng giám đốc Tài chính, một nhân vật đang giữ toàn bộ tiền của FPT. Vốn thông minh, nên ông Tiến nhanh chóng đồng ý xuất khẩu phần mềm là một định hướng đúng.

Nhưng là con người tài chính - rất thực tế, ông nghi ngờ khả năng cụ thể của đội ngũ phần mềm FPT nói riêng và Việt Nam nói chung. Sau nhiều ngày thảo luận ông Tiến đã đồng ý chi khoản ngân sách một triệu đô la Mỹ cho dự án đầu tư phát triển phần mềm xuất khẩu. Không biết một triệu là nhiều hay ít, ông Bình hoàn toàn thỏa mãn về nguồn lực tài chính đã được đảm bảo này.

Một vấn đề quan trọng khác đối với xuất khẩu phần mềm là quy trình sản xuất. Vào thời điểm đó FPT còn chưa có chính sách chất lượng. Các quy trình sản xuất kinh doanh hoặc chưa có, hoặc có thì cũng chẳng ra gì. Ông Bình nói chuyện với Lê thế Hùng, một bộ óc điện tử của FPT, phó tiến sĩ toán lý.

Rất yêu mến Trương Gia Bình, ông Hùng nhận ngay trách nhiệm xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng ISO 9001 cho toàn bộ các quá trình của FPT, trong đó đặc biệt chú trọng đến quá trình sản xuất phần mềm. Đối với ông Bình, FPT đã là công ty ISO 9001 ngay sau khi ông Hùng nhận lời, mặc dù tổ chức chứng nhận chất lượng quốc tế BVQI đến cuối năm 1999 mới công nhận điều đó.

Để triển khai kinh nghiệm 10 năm "con người là cốt lõi của thành công", ông Bình đã phát động một chiến dịch cầu hiền tài. "Chiếu cầu hiền tài" của ông đăng trên báo Chúng ta và được nhiều báo khác đăng tải lại đã gây xúc động mạnh mẽ trong giới trẻ. Hai câu lạc bộ tài năng trẻ FYT ra đời, quy tụ hầu hết những học sinh sinh viên giỏi nhất nước, trong đó có nhiều em vừa đoạt các giải cao trong các kỳ thi toán học, tin học quốc tế.

Một trong các nỗ lực cầu hiền tài đã đưa về FPT một ngôi sao sáng trong làng phần mềm Việt Nam lúc đó là Henry Hùng. Ông Henry là bạn học thời sinh viên với Phan Ngô Tống Hưng. Là người có hoài bão lớn lao và biết truyền cảm xúc sang người đối thoại, ông Bình không khó khăn gì trong việc thuyết phục ông Henry đang lạc lối giữa trời Tây về với FPT chính nghĩa. Chính ông Henry là người đưa khách hàng phần mềm quốc tế đầu tiên cho FPT: công ty Winsoft-Canada.

Một vấn đề làm đau đầu ông Bình là khả năng giao tiếp với thế giới. Do người Mỹ không nói được tiếng Việt nên chúng ta buộc phải nói tiếng Mỹ. Đây là bất lợi lớn nhất của Việt Nam so với Ấn Độ khi làm việc với thị trường Mỹ. Hệ thống giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua không thực sự coi trọng dạy ngoại ngữ. Hầu hết các cử nhân tin học, ngoài tiếng Việt ra, chẳng nói được bất cứ một thứ tiếng nào khác.

Theo kinh nghiệm của bản thân, ông Bình hiểu rằng, quan trọng nhất đối với việc học ngoại ngữ là tạo ra được môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên. Vì vậy, ngoài các lớp học ngoại ngữ nâng cao, các kỳ thi toefl... ông yêu cầu mọi nhân viên phần mềm phải giao dịch và báo cáo bằng tiếng Anh. Lúc đầu các báo cáo đều rất ngắn, thường chỉ vài dòng. Nhưng sau hai tháng duy trì, có lúc ông đã rất ngạc nhiên khi nhận được báo cáo bằng tiếng Anh dài tới mấy chục trang.


Bình Thiên hạ

Ngày 13 tháng 6 năm 1999, một bộ phận tinh nhuệ từ Xí nghiệp Giải pháp Phần mềm FSS được tách ra thành một FSU (FPT Strategic Unit), lãnh ấn tiên phong thực hiện gia công phần mềm đầu tiên có tên là Life-Serve, một phần mềm bảo hiểm nhân thọ của công ty Winsoft.

Để động viên cán bộ của mình, ông Bình đã gọi họ là những chiến sĩ trên tiền tuyến và cam kết là những người còn lại - hậu phương lớn sẽ làm tất cả những gì cần làm để tạo điều kiện cho tiền tuyến chiến thắng.

Ông cũng phong cho hai đồng Giám đốc của FSU những chức vụ còn to hơn cả chính ông: Henry Hùng làm Chinh Tây Đại nguyên soái, Nguyễn Thành Nam làm Bình Tây Đại nguyên soái. Nhưng ông không phải là người dễ dãi. Ông nói với các nguyên soái của mình: các ngươi chỉ có một quyền duy nhất là chiến thắng.

Cuối tháng 06/1999, Trương Gia Bình cùng với Henry Hùng làm chuyến khảo sát thị trường Mỹ. Các ông đã đến thung lũng Silicon và gặp gỡ rất nhiều công ty tin học ở đây. Sau đó tại Seatle, hai ông đã có buổi tiếp xúc với phó chủ tịch Microsoft cùng đại diện của nhiều công ty khác.

Sau Seatle, hai ông đến Dallas và gặp gỡ 15 công ty phần mềm lớn nhỏ. Chuyến đi cho ông Bình thấy tiềm năng vô hạn của thị trường Mỹ và trong đầu ông ý tưởng mở văn phòng đại diện tại Mỹ đã chín muồi. Nói về chuyến đi, ông Bình kết luận: vấn đề quan trọng bây giờ là phải nhanh chóng tổ chức lực lượng.

Lúc này lực lượng làm phần mềm của FPT chỉ khoảng 70 người, trong đó số đang làm các hợp đồng nội địa khoảng 40 người. Cần phải tuyển thêm rất nhiều. Nhìn số lượng sinh viên các khoa CNTT tốt nghiệp hàng năm, ông Bình thấy yên tâm. Nhưng thực tế không phải vậy. Theo tiêu chuẩn tối thiểu mà Nguyễn Thành Nam đề ra cho lập trình viên như toefl 500, biết C++, Java, VB, DBMS..., hầu hết các ứng viên không đáp ứng được. Mặc dù họ rất thông minh, biết nhiều, nhưng tình trạng chung là "cái cần thì không biết".

Ông Bình suy nghĩ nhiều ngày về vấn đề này và đi đến kết luận, Việt Nam cần thiết phải có các tổ chức đào tạo chuyên nghiệp quốc tế mới có thể đào tạo các lập trình viên đáp ứng các tiêu chuẩn của ngành công nghiệp phần mềm.
Theo gương Đường Tam Tạng, ông cùng Nguyễn Thành Nam làm một chuyến du hành sang Ấn Độ với mục tiêu tìm lời giải cho bài toán nhân lực. Tại đây ông đã tiếp xúc với các công ty Tata, Aptech, NIIT, Inforsys... Thành công của những công ty này đã khiến ông sửng sốt. Chính những người Ấn tiên phong này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách và tâm hồn ông, họ đã thổi bùng ước mơ lay lắt của ông thành một đám cháy khổng lồ.

Giữa tháng 9 năm 1999, FPT khai trương hai trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế FPT-Aptech. Aptech là công ty đào tạo hàng đầu của Ấn Độ, có hơn một ngàn trung tâm đào tạo trong nước và hơn hai trăm trung tâm đào tạo ở 30 nước khác trên thế giới. Ông Bình đã có thể tạm yên tâm về bài toán nhân lực để tập trung thời gian giải quyết những vấn đề khác.

Cuối năm 1999, ông Bình quyết định mở chi nhánh tại Bangalore. Khúc Trung Kiên được ông Bình phong làm Đại tướng và chiến trường Ấn Độ được gọi là chiến trường B, bí danh của chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Trong chiếu chỉ có đoạn: "Nay quyết định mở mặt trận phía Tây trên đất Ấn, lập đàn phong tướng, phong thiếu tá Khúc Trung Kiên lên chức Đại tướng FPT, tổng chỉ huyphương diện quân Ấn Độ, lập tức lên đường viễn chinh, giành thắng lợi về cho công ty".

Vì mục tiêu của FPT-India đặt ra quá chung chung nên tính thuyết phục không cao. Quyết định thành lập chi nhánh FPT tại Ấn Độ đã gây tranh cãi nhiều ngày trong hàng ngũ cán bộ tham mưu, nhưng ông Bình thấy không cần phải giải thích hay đính chính. Một số người có tính hài hước cho rằng, không có chi nhánh nước ngoài làm sao FPT có thể trở thành công ty quốc tế được!

Sự việc này chứng tỏ tầm nhìn của ông Bình cao hơn hẳn mọi người và đã vượt qua giới hạn thông thường của một giám đốc công ty.

Trên thực tế chi nhánh Ấn Độ không mang lại một lợi nhuận hay triển vọng lợi nhuận nào cả. Nhưng nó có một sứ mạng chính trị to lớn mà chỉ những người có tầm nhìn bao quát mới thấy hết được.

Ông Bình nhận thấy một FPT đơn độc sẽ có rất ít cơ hội thành công. Ông cần sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam. Ông mơ ước viễn cảnh "nhà nhà làm phần mềm" sẽ trở thành hiện thực. Bản thân ông cũng bị bất ngờ khi thăm quan thung lũng phần mềm Bangalore - Ấn Độ. Ông muốn các nhà lãnh đạo Việt Nam được tận mắt chứng kiến những gì đã làm ông sửng sốt ở đây. Việc một công ty Việt Nam có chi nhánh ở thung lũng phần mềm nổi tiếng nhất châu Á là sự kiện có sức thu hút đặc biệt và trên thực tế nó đã lôi kéo được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Sau chuyến công tác của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, các đoàn công tác của Chủ tịch Nước Trần Đức Lương, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã lần lượt đến thung lũng phần mềm Bangalore. "Trăm nghe không bằng mắt thấy", những chuyến đi này đã ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách của Nhà nước đối với định hướng chiến lược xuất khẩu phần mềm một năm sau đó.

Vào những ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới, ông Bình đã quyết định cử Henry Hùng và Hồng Sơn sang mở văn phòng tại thung lũng Silicon. Hai ông này có nhiệm vụ đem cờ Việt Nam và cờ FPT cắm trên đất Mỹ.

Sự kiện này đã làm chấn động dư luận trong cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới. Việt Kiều ở Mỹ tức tối, "chúng nó không cần vượt biên mà cũng sang được đây". Việt Kiều Anh-Pháp thì tò mò, "không hiểu chúng nó sang Mỹ làm gì"? Người Việt trong nước thì khâm phục. Dân FPT đi đâu cũng bị hỏi "chúng mày sang Mỹ làm gì đấy?" và câu trả lời bao giờ cũng là "đầu tư chứ còn làm gì nữa", "tại sao lại phải đầu tư bên đó?", "à, môi trường đầu tư ở đó an toàn hơn ở châu Âu".
Ông Bình đặt rất nhiều kỳ vọng vào Henry Hùng. Theo kế hoạch, trong ba tháng đầu ông Hùng phải đưa văn phòng Silicon vào hoạt động ổn định, sau đó sẽ bàn giao cho ông Sơn và đi mở văn phòng mới. Trong 2 năm, FPT sẽ mở thêm khoảng 15 văn phòng ở Bắc Mỹ. Mỗi văn phòng có trách nhiệm quí các hợp đồng trị giá ít nhất là 400K. Như vậy 15 văn phòng sẽ cung cấp các hợp đồng cho Việt Nam với tổng trị giá khoảng 6 triệu đô la Mỹ vào năm 2001.

Bị thôi miên bởi ý chí của ông Bình, Henry Hùng và Hồng Sơn lên đường sang Mỹ với một nỗi lo canh cánh, không biết mình kiếm được nhiều hợp đồng quá thì ở nhà có chuẩn bị đủ người thực hiện hay không?

Lúc này FPT đã cơ bản triển khai xong về mặt tổ chức cho hướng xuất khẩu phần mềm. Tổng hành dinh của FPT Software (viết tắt là FSOFT) nằm ở Hà Nội. Tại đây có FSU1 do Nguyễn Thành Nam trực tiếp phụ trách, FSU3 do Bùi Quang Ngọc chỉ huy. Trung tâm đào tạo Aptech được giao cho Nguyễn Khắc Thành, thường gọi là nghệ sĩ nhân dân, mặc dù chuyên môn của ông là phó tiến sĩ toán lý. Tại Thành phố HCM, trung tâm phần mềm được đổi tên thành FSOFT HCM, do Lê Trường Tùng và Nguyễn Quốc Hùng phụ trách. Trung tâm đào tạo Aptech do ông Tùng kiêm nhiệm. Công ty có chi nhánh quốc tế tại Bangalore và văn phòng đại diện tại Silicon Valey.

Kết thúc năm 2000, ông Bình nhìn lại những việc đã làm tuy khá nhiều nhưng vẫn còn quá chậm. Ông tâm sự với các cộng sự rằng quỹ thời gian của ông không còn nhiều, nếu không hết sức khẩn trương thì sợ già mất. Hơn nữa cơ hội cũng không đứng yên chờ ai.

Sau một năm quyết tâm làm xuất khẩu phần mềm, chiến công mà FPT thu được mới chỉ là Nà Ngần, Phay Khắt. Không có cứ điểm Điện Biên Phủ, cũng không có Tổng tiến công vào Sài Gòn...

Tại Hội nghị tổng kết năm 2000 Đại Lải, ông Bình quyết định phát động chiến tranh trong toàn công ty. Ông nói, người Việt Nam là thái âm, trong thời bình những biểu hiện của thái âm là sự trì trệ, là bệnh hoạn. Chỉ khi đặt trong hoàn cảnh chiến tranh, nước sôi lửa bỏng, sự trì trệ đó mới mất đi và những ưu điểm của người thái âm mới có cơ hội thể hiện rõ.
Ông Bình cũng trình bày rõ ràng nội dung của cuộc chiến tranh để toàn dân thảo luận. Mục tiêu của cuộc chiến là 528; thời hạn của cuộc chiến là từ 5-7 năm; phạm vi của cuộc chiến là toàn cầu; bản chất của cuộc chiến là chiến tranh nhân dân; tổ chức của quân đội là fractal; hậu phương là các bộ phận đang kiếm ra tiền; tiền tuyến là nơi tiêu tiền; trinh sát là văn phòng đại diện tại Silicon Valey...

Hùng Henry phải cung phụng bọn Mỹ để lấy hợp đồng. Khúc Trung Kiên phải tập ăn cà ri để hòa mình với dân Ấn. Trong nước mỗi người phải làm việc bằng hai. Các tướng lĩnh phải thắt lưng buộc bụng. Gian khổ không chỉ ngày một ngày hai. Nhưng khi thành công thì tất cả đều thành tỉ phú, bét nhất thì cũng triệu phú...

Tinh thần chiến tranh được phát triển sâu rộng đến từng bộ phận, từng chi đoàn. Các kỹ sư phần mềm được phong quân hàm cấp úy. Binh pháp Tôn Tử được mang ra thảo luận. Ông Bình mời cả vị tướng có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân như tướng Hoàng Đan đến nói chuyện.

Nhân viên FPT gặp nhau toàn nói chuyện kỳ chính, chính kỳ, fractal, 528... Để cho dễ nhớ, ông Bình đã gói gọn mục tiêu của công ty vào 3 chữ số 528. Số 5 chỉ 5000 lập trình viên chuyên nghiệp của FPT vào năm 2005. Số 2 chỉ 200 triệu doanh số phần mềm xuất khẩu cũng vào năm đó. Số 8 chỉ giá trị của công ty tại thị trường chứng khoán Nasdaq là 8 tỷ đô la Mỹ.

Toàn thể nhân viên FPT hừng hực khí thế chiến tranh. Trở thành công ty bạc tỷ trong vòng mấy năm là một chuyện phi thường và người FPT đang quyết tâm làm chuyện phi thường.

Những vị lãnh đạo Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến công nghiệp phần mềm, nhưng sự quan tâm đó vào đầu năm 2000 vẫn chưa được thể hiện bằng hành động cụ thể. Chưa có nghị quyết của chính phủ về ngành công nghiệp này. Chưa có chính sách ưu đãi của nhà nước cho các công ty phần mềm. Nhà nước cũng chưa quyết tâm đầu tư. Ông Bình hiểu rằng, cần phải tiếp tục tác động.

Cuối tháng 3 năm 2000 một phái đoàn do công ty FPT phối hợp với Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa và VTV đã tiến hành khảo sát ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ. Mục tiêu của chuyến đi này là học hỏi kinh nghiệm Ấn Độ trong lĩnh vực xuất khẩu phần mềm, để tiến hành tuyên truyền sâu rộng cho việc xây dựng và phát triển phần mềm xuất khẩu Việt Nam.

Ông Bình đã lên đài truyền hình Việt Nam và trước 80 triệu đồng bào cả nước kêu gọi "dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn" cũng phải xây dựng bằng được ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam hướng tới xuất khẩu. Không chỉ tuyên truyền trên truyền hình, ông còn đi đến Đà Nẵng, Cần Thơ giải thích và vận động những nhà lãnh đạo tại các tỉnh này ủng hộ xây dựng các công viên phần mềm địa phương.

Chiến dịch tuyên truyền sâu rộng với sự tham gia của tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đã mang lại kết quả. Ai cũng nói về phần mềm. Chính phủ bàn về phần mềm. Tỉnh, thành phố, quận huyện cũng bàn về phần mềm. Hội thảo về "xuất khẩu phần mềm như một cơ hội thiên niên kỷ" đã diễn ra khắp nơi.

Quả thật là Việt Nam đang nằm trong tốp nghèo nhất thế giới và cơ hội bứt ra khỏi tốp này không phải là nhiều. Khẩu hiệu "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" vẫn tiếp tục chỉ là khẩu hiệu trong nhiều năm qua. Không có nhiều lựa chọn cho Việt Nam. Vì thế, dù cách thức đặt vấn đề có khác nhau, nhưng hầu như các hội thảo trong thời gian này đều đi đến một kết luận giống nhau: công nghiệp phần mềm là lối thoát duy nhất của Việt Nam. Từ vấn đề kinh tế, xuất khẩu phần mềm đã trở thành vấn đề chính trị, vì nó không chỉ mang về cho đất nước một ít ngoại tệ mà là mở ra cho đất nước một cơ hội phát triển.

Ngày 05/06/2000, Chính phủ đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 với mục tiêu: 50 ngàn lập trình viên, 500 triệu đô la Mỹ phần mềm xuất khẩu vào năm 2005. Ngày 17-10-2000, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa 8 đã ra Chỉ thị 58-CT/TW, trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin đối với sự phát triển đất nước.

Tiếp theo hai văn kiện quan trọng này là việc triển khai hàng loạt các chính sách ưu đãi dành cho các công ty phần mềm như: miễn thuế 4 năm cho các công ty phần mềm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, không áp dụng VAT với các sản phẩm phần mềm, thuế xuất nhập khẩu bằng không...

Đặc biệt các lập trình viên Việt Nam được tôn vinh, khi mức lương bắt đầu phải nộp thuế thu nhập nâng từ hai triệu lên tám triệu đồng. Các công ty phần mềm được sử dụng internet với tất cả các cổng dịch vụ không bị kiểm soát qua firewall... Nhà nước đầu tư vào các khu công viên phần mềm như Quang Trung, Hòa Lạc...

Những người làm phần mềm hân hoan thụ hưởng các chính sách mới này, nhưng không phải tất cả trong số họ đều biết đến công lao của ông Bình trong nỗ lực tác động hình thành chính sách.

Những người gần gũi ông nói rằng, trong hoàn cảnh thuận lợi, vai trò của ông rất mờ nhạt, nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, ông luôn tỏa sáng. Tư tưởng Thác nước và Cầu vượt của ông chưa được mọi người chia sẻ, nhưng ông sẽ thuyết phục được họ không sớm thì muộn. Dòng thác ông nói tới là dòng thác công nghệ và đội quân làm phần mềm chính là những cái cầu vượt mà Việt Nam phải cần tới, để không bị mặc kẹt trong tốp các dân tộc đau khổ nhất thế giới.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

http://2.bp.blogspot.com/--ET8goSTfIA/Ue9pbM5iWoI/AAAAAAAAAIo/bg6Hzbe7M2w/s1600/NguyenNhatAnh.jpg

Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông.

Năm 1995, ông được bầu chọn là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm (1975-1995) qua cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về các gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lãnh vực của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi Trẻ, đồng thời được Hội nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểu trong 20 năm (1975-1995).

Năm 1998 ông được Nhà xuất bản Kim Đồng trao giải cho nhà văn có sách bán chạy nhất.

Năm 2003, bộ truyện nhiều tập Kính vạn hoa được Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh trao huy chương Vì thế hệ trẻ và được Hội nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng. Tác phẩm mới nhất của ông vừa được NXB Trẻ ấn hành vào năm 2008 có tên Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, tác phẩm này được báo Người Lao động bình chọn là tác phẩm hay nhất năm 2008.

Buổi sáng đẹp trời hôm đó, một ngày cuối tháng 7, tại Đại học Hoa Sen có buổi nói chuyện của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với sinh viên. Gần trăm sinh viên tề tựu từ sớm. 

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Chỉ có vài… “sinh viên” hơi lớn tuổi là cô Bùi Trân Thúy và nhà văn Mai Sơn trong ban tổ chức loay hoay, một vị phụ huynh chở con đến rồi ngồi lại dự luôn, và tôi, người cao tuổi lạc lõng nhất nên được mời ngồi gần diễn giả để nghe cho rõ… Nhờ đó mà tôi ghi lại được đôi điều, chủ yếu phần trao đổi mà tôi cho là thú vị.

Trong phần “mào đầu”, Nguyễn Nhật Ánh phân tích tác động của văn chương, nghệ thuật, đặc biệt lợi thế của văn đọc hơn hẳn các phương tiện nghe nhìn trực quan khác… Văn đọc giúp trí tưởng tượng phong phú hơn. Với văn đọc, trăm ngàn người đọc thì có trăm ngàn hình ảnh tưởng tượng khác nhau, coi như cùng sáng tác với tác giả, trong khi phim ảnh chỉ có óc tưởng tượng của một người là đạo diễn… Tác phẩm văn chương tạo cảm xúc đạo đức cho người đọc, nuôi dưỡng tâm hồn người đọc dài lâu…

Một nữ sinh viên đứng lên. Em nói như khóc - và thực sự thì em đã khóc vì cảm động - bảo đây là lần đầu em được gặp nhà văn mà em hằng mến mộ từ tuổi thơ. Em lúng túng:

- Nhờ đâu mà lúc nào chú cũng vui và trẻ con trong nhân vật?

Chú cũng không biết. Có lẽ trong người chú lúc nào cũng có một chú bé con. Chú mong chú bé con đó không bao giờ lớn để chú có thể viết hoài cho tuổi mộng mơ…

Rồi nhiều sinh viên khác:

- Chú đọc bằng cảm xúc hay bằng lý tính?

Chú đọc hồn nhiên, theo cảm xúc. Thưởng thức. Thưởng ngoạn. Tác động cảm xúc là chính. Sau, rồi mới suy nghĩ thêm, sau nữa thấy cần thiết thì đọc lại, ghi chép. Ngay lần đầu tiên đến với một cuốn sách mà đã lăm lăm cây viết trên tay, rình chộp bắt những ý tưởng hay, những câu văn lạ thì mất cả thú. Đọc sách là một cái thú. Người ta gọi “thú đọc sách”.

Vừa đọc vừa phân tích, nhận xét, mổ xẻ, gạch đít, ghi chú là kiểu đọc của các nhà nghiên cứu phê bình. Đó là thao tác nghề nghiệp. Trừ khi làm nghề, chúng ta nên đọc một cách hồn nhiên. Đọc sách mà tọc mạch, tỉ mẩn quá đôi khi chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Dĩ nhiên ngay cả chú đôi lúc cũng đọc theo kiểu đó, dù không cố ý. Cái đó là “bệnh nghề nghiệp”. Cũng như bạn chú, một người làm nghề chữa morasse, một lần đi ăn phở thấy nhãn hiệu trên chai nước tương sai lỗi chính tả, tự nhiên ăn không thấy ngon nữa, đành bỏ dở nửa chừng. Món ăn tinh thần hay món ăn vật chất chỗ này giống nhau: xét nét quá làm mất cả thú vui thưởng thức.

- Khi viết, chú đọc gì?

Khi đang viết sách cho thiếu nhi, chú chỉ đọc sách thiếu nhi. Để tâm trí không bị phân tán, pha loãng. Để nuôi dưỡng một bầu không khí thuần khiết, tránh ảnh hưởng tới việc sử dụng ngôn ngữ hình ảnh phù hợp với tuổi thơ.

- Đọc sách như thế nào cho hiệu quả?

Sách nào hay thì đọc. Thường chúng ta chọn sách là nghe bạn bè giới thiệu, đọc bài điểm sách trên báo, hay chọn sách theo sở thích riêng, theo uy tín của nhà xuất bản hay tác giả. Thuở chú còn học sư phạm, mỗi sinh viên được quyền giới thiệu một cuốn sách hay, rồi xoay vần đổi cho nhau mỗi tuần, sau chia nhóm lên bục thuyết trình về tác phẩm. Nhờ đó mà sâu. Nhà trường bây giờ cần khuyến khích đọc sách, tổ chức cho học sinh đọc sách. Trong gia đình, bố mẹ ham đọc sách thì con ham đọc sách. Cha ôm chai rượu, mẹ ôm bộ bài tứ sắc thì con cũng vậy. Trẻ bây giờ không có thì giờ đọc sách có lỗi của ngành giáo dục. Học hành gì mà căng thẳng quá!

- Cảm xúc khi được đề cử giải Đông Nam Á?

Khi viết, không nhà văn nào nghĩ đến giải thưởng hay danh hiệu này nọ, chỉ nghĩ đến bạn đọc. Viết là để chia sẻ những ý tưởng của mình với bạn đọc. Cuộc sống nhà văn xoay quanh độc giả, chứ không phải xoay quanh các giải thưởng. Nhưng có giải thưởng thì cũng vui, nó có ý nghĩa khích lệ, một cách nào đó là sự thừa nhận những nỗ lực làm nghề của mình.

- Để tạo một tác phẩm hay thì yếu tố cảm hứng từ đâu?

Văn chương thường đến từ 3 nguồn: ký ức, sự quan sát, óc tưởng tượng. Thời kỳ đầu cầm viết, thường người ta viết về… mình, khai thác mình, vì viết chuyện đời mình là dễ nhất, mình thuộc như lòng bàn tay, do đó những tác phẩm đầu tay của các nhà văn thường phảng phất yếu tố tự truyện. Nhiều người sau một thời gian khai thác mình thì hết chuyện để viết. Lúc đó, sự quan sát và óc tưởng tượng chính là những yếu tố bổ sung cần thiết.

- Để trở thành nhà văn, cần có những tố chất gì?

Cần có năng khiếu, đó là yếu tố tiên quyết. Có người nói “Thành công đến từ 1% năng khiếu và 99% lao động”. Riêng đối với nghề văn, có 99% lao động mà thiếu 1% năng khiếu cũng thất bại. Có trường đào tạo kỹ sư, bác sĩ, thầy giáo… nhưng không có trường đào tạo nhà văn là vậy. Bởi năng khiếu là cái không giảng dạy hay truyền thụ được. Các trường viết văn hiện nay chỉ làm nhiệm vụ bồi dưỡng chứ không phải đào tạo.
- Khi bị “tịt ngòi” chú khai thông bằng cách nào?

Có nhiều cách, tùy theo từng nhà văn. Có người bỏ đi làm chuyện khác, quay lại viết sau. Với chú, chú giải quyết bằng cách thay đổi môi trường làm việc. Khi viết tiếp bộ “Kính vạn hoa” sau 5 năm kết thúc, theo yêu cầu của một tờ báo, chú ôm cái laptop ra Vũng Tàu thuê khách sạn ở 3 ngày đêm, chỉ để làm mỗi một việc là ngày nào cũng ngồi bên cửa sổ nhìn ra biển, đầu nghĩ tới cuốn sách sắp viết. Hai ngày đầu bế tắc, tưởng bỏ cuộc. Ngày thứ ba, viết được 5 trang, chú liền điện về tòa soạn đồng ý để họ rao về truyện feuilleton sắp tới. Thường sau khi viết được ít trang thì viết tiếp không còn khó nữa. Ông bà nói rồi: “Vạn sự khởi đầu nan”!
- Tại sao kết thúc truyện của chú thường không có hậu?

Không, đó là kết bỏ lửng chứ không phải không có hậu. Những rung động đầu đời của tuổi mới lớn bao giờ cũng… lơ lửng, trong truyện cũng vậy mà ngoài đời cũng vậy. Vì sau đó chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra cho họ, họ đang lớn, còn nhiều thay đổi mà...

Kết thúc buổi nói chuyện, NNA đọc 4 câu thơ tặng các bạn trẻ :

Hôm qua em hứa anh rằng…
Sao nay em lại khăng khăng bảo là…
Tưởng em yêu thật hóa ra…
Cũng vì anh quá thật thà cho nên…
Cũng lại bỏ lửng!

Đỗ Hồng Ngọc - SGGP

Đoàn Nguyên Đức

40 năm trước cậu bé Đoàn Nguyên Đức hàng ngày chăn trâu trên cánh đồng bên cạnh sân bay Phù Cát, tỉnh Bình Định quê hương, ước mơ một ngày nào đó sẽ được cưỡi và tậu cho mình một máy bay riêng. Ước mơ tưởng như viển vông đó nay đã thành hiện thực.Ở phố núi, chẳng ai gọi ông Chủ tịch Câu lạc bộ bóng đá Hoàng Anh Gia Lai, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL Group) bằng cái tên cúng cơm Đoàn Nguyên Đức, mà là Ba Đức vì cái tên này đã trở nên gần gũi, thân quen với mọi người.

http://4.bp.blogspot.com/-KNYmd9fMVKM/Ue9oNrobmQI/AAAAAAAAAIc/f_1F6X4AyeU/s1600/bau+duc.jpg 
Từ năm 2001 đến nay, cái tên Ba Đức càng nổi như cồn sau những sự kiện làm nên các “ tít” lớn trên hầu hết các báo Việt Nam và cả trên thế giới như: việc ông mua chân sút số một Đông Nam Á Kiatisak và trả lương đến 15.000 USD một tháng vào năm 2002; hợp tác với CLB bóng đá nổi tiếng của Anh Arsernal để mở Học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG vào năm 2007…
Đầu năm 2008 ông còn định mua 20% cổ phần của CLB Arsenal. Và gần đây nhất là ông đã tậu cho mình một chiếc máy bay riêng (Beechcraft King Air 350, trị giá 7,5 triệu USD) như điều mà ông từng mơ ước 40 năm về trước. Điều đặc biệt là ông tậu chiếc máy bay này từ tiền túi cá nhân để phục vụ công việc chung của Tập đoàn.
Bước ngoặt để Đoàn Nguyên Đức trở thành thương gia là khi ông 22 tuổi sau 4 lần thi đại học không thành. Bầu Đức kể lại rằng: “Chính vì thi rớt đại học, tôi lại thành đạt như bây giờ. Tôi có đọc cuốn sách viết về 100 tỷ phú thế giới, thấy có ai học đại học được đâu. Ông trùm máy tính của thế giới là Bill Gates giỏi lắm cũng mới học nửa chừng năm thứ hai của Đại học Harvard rồi bỏ học. Riêng tôi lại rất thích câu nói: “Trường đại học của tôi chính là trường đời”.
Khởi đầu sự nghiệp của ông Đức chỉ là việc trực tiếp điều hành một phân xưởng nhỏ, chuyên đóng bàn ghế cho học sinh tại xã. Nhưng kể từ năm 1990 đến nay, doanh nghiệp của ông Đoàn Nguyên Đức đã phất lên như diều gặp gió. Ông Đức trở thành chủ của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai – một tập đoàn tư nhân – hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh thu kể từ năm 2005 đã vượt quá 1.200 tỷ đồng, các năm sau đều cao hơn năm trước và dự kiến năm nay có thể lên đến 4.000 tỷ đồng.
Các sản phẩm của HAGL Group như đồ gỗ nội – ngoại thất cao cấp; đá granit ốp lát tự nhiên mủ cao su… đã có mặt hầu khắp các thị trường châu Á, châu Âu, châu Mỹ, Australia và New Zealand. Các văn phòng đại diện của HAGL cũng được thiết lập tại nhiều nước nhằm tạo điều kiện cho khách hàng có thể tiếp cận, giao dịch với tập đoàn một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất.
Hiện nay, HAGL Group còn mở rộng đầu tư sang lĩnh vực kinh doanh địa ốc, như xây dựng các trung tâm thương mại, căn hộ cao cấp, văn phòng cho thuê, và đã cho ra đời một loạt khách sạn, khu nghỉ mát 4 sao, 5 sao tại TP HCM, Đà Lạt, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Pleiku…
Tính đến thời điểm 31/1/2008 tổng giá trị tài sản ròng của HAGL Group đã đạt 25.576 tỷ đồng, vượt xa so với con số 11.600 tỷ đồng đầu năm 2007. Ông Đức cho hay sở dĩ đạt được con số trên là do HAGL hiện đang sở hữu 27 dự án bất động sản, trong đó có những dự án đã được đầu tư và mua đất từ năm 2000. Do giá thị trường bất động sản, đặc biệt là căn hộ cao cấp tăng cao nên tổng giá trị tài sản ròng của tập đoàn cũng tăng.
goài ra, HAGL còn đang sở hữu hệ thống khách sạn, các resort, 5 nhà máy sản xuất đồ gỗ và chế tác đá granite, trên 20.000 ha cao su tại Gia Lai, Kon Tum và Lào, nhà máy thủy điện 143 MW; 2 mỏ sắt và một mỏ đồng…
Theo kết quả kiểm toán của Earns & Young, năm 2007 vừa qua HAGL đạt 870 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế vượt chỉ tiêu đề ra 270 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế năm 2008 ước đạt 2.500 tỷ đồng.
Ông Đoàn Nguyên Đức cho biết thêm, trong năm 2008, HAGL Group cam kết sẽ tài trợ cho Lào 100% vốn với giá trị lên đến 19 triệu USD để xây dựng làng vận động viên SEA Games 25, gồm tám khu nhà chức năng với khoảng 42.000 m2 sàn xây dựng, là một khu ở khép kín cho 4.000 vận động viên quốc tế.
Trong tổng vốn 19 triệu USD, 4 triệu USD là tài trợ không hoàn lại, phần còn lại được cho vay thời hạn ba năm không lãi suất. Khoản tiền vay sẽ được Chính phủ Lào hoàn trả bằng gỗ khai thác và các dạng quota khác cho HAGL.
Ngoài ra Chính phủ Lào còn tạo điều kiện cho HAGL thăm dò tiềm năng khai thác khoáng sản ở Nam Lào và cấp cho HAGL 10.000 ha đất trồng cao su, nâng tổng diện tích đất dự án cao su tại tỉnh Attapeu của HAGL lên 15.000 ha, bao gồm cả đất để xây dựng hai nhà máy chế biến mủ cao su với tổng công suất 40.000 tấn một năm.
Theo tính toán trong vòng 5 đến 7 năm tới lợi nhuận của HAGL từ việc đầu tư tại Lào có thể lên đến trên dưới 100 triệu USD một năm nhờ xuất khẩu cao su và các sản phẩm từ cao su và gỗ. Rõ ràng là đồng tiền mà bầu Đức bỏ ra để khuyếch trương thương hiệu và uy tín của Tập đoàn cũng như 15.000 ha trồng cao su trên đất Lào, quả thật là những con gà đẻ trứng vàng.
Tìm hiểu thêm về Đoàn Nguyên Đức người tiên phong thay đổi diện mạo bóng đá việt
1. Mua tiền đạo người Thái Kiatisuk

Mua Kiatisuk (vàng) là thương vụ thành công của bầu Đức.
Năm 2002, HAGL còn chơi ở giải hạng Nhất, bóng đá Việt Nam mới chỉ có hai năm lên chuyên nghiệp, và quyết định đưa tiền đạo số một Đông Nam Á thời điểm đó về Gia Lai với mức lương 9.000 USD mỗi tháng khiến giới chuyên môn, người hâm mộ sửng sốt. Thậm chí, đến cả CLB của Thái Lan cũng không tin nổi điều này. Khi bầu Đức sang Thái để đàm phán hợp đồng mua Kiatiasuk, CLB chủ quản của anh còn không thèm tiếp doanh nhân này. Bầu Đức phải ở lại Bangkok ròng rã trong hai tháng để tìm mọi cách tiếp xúc và tiến tới ký kết hợp đồng.
Bầu Đức nhớ lại chính chân sút người Thái cũng chất vấn rằng “lấy tiền đâu ra mà trả lương”. Khi đó, ông chủ của HAGL lập tức điện về và ra lệnh chuyển số tiền tương đương hai năm lương vào tài khoản của Kiatisuk.
Thời gian đó, Kiatisuk là linh hồn của đội tuyển Thái Lan. Tiền đạo này được dân Việt Nam yêu bóng đá ngưỡng mộ không chỉ vì tài năng trên sân cỏ mà những phẩm chất đạo đức của anh. Vì thế, có thể nói đây là thương vụ táo bạo và khôn ngoan của bầu Đức. Trước đó, không ai biết Đoàn Nguyên Đức hay HAGL là ai nhưng mọi chuyện đã thay đổi từ khi Kiatisuk tới Gia Lai.
2. Hợp tác với Arsenal và khai trương Học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG

Bầu Đức ngồi dùng bữa với HLV Arsene Wenger. Ảnh HAGL cung cấp.
Sự nổi tiếng của CLB nước Anh lan tỏa ở Việt Nam và khắp thế giới nhờ những trận đấu ở giải Ngoại hạng. Doanh nhân người Việt ngồi cùng bàn ăn với HLV Arsene Wenger, chụp ảnh cùng các danh thủ như Adebayor.
Học viện bóng đá đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng trên phố núi với quy trình đầu tư bài bản cho các tài năng bóng đá trẻ. Những mầm non này sẽ tương lai của bóng đá Việt Nam.
Hàng tuần, người yêu bóng đá cả nước được thấy dòng chữ Hoàng Anh Gia Lai Việt Nam chạy trên những banner quảng cáo khắp sân Emirates của Arsenal tại London (Anh).
3 . Mua cầu thủ gốc Việt Lee Nguyễn

Bầu Đức và Lee Nguyễn trong lễ ký hợp đồng vào ngày 18/1 vừa qua.
Cầu thủ trẻ gốc Việt từng được gọi vào đội tuyển quốc gia Mỹ sẽ trở về chơi bóng ở quê nhà từ V-League 2009. Lee Nguyễn sẽ nhận mức lương khủng với 10.000 USD mỗi tháng trong bản hợp đồng 3 năm.
Đẳng cấp của Lee Nguyễn đã được khẳng định ở giải vô địch bóng đá Hà Lan và Đan Mạch. Anh cũng từng ghi ba bàn thắng trong một trận đấu giao hữu thử chân trước mùa giải trong màu áo HAGL. Tiền vệ trẻ gốc Việt này hứa hẹn sẽ tạo nên cơn sốt mới ở bóng đá Việt Nam vài năm tới.